MỤC VỤ LỜI CHÚA

BÀI GIẢNG LỄ TRỌNG KÍNH CHÚA  

BÀI GIẢNG THAM KHẢO

BÀI GIẢNG TRONG TUẦN

 

 

 

 

LỄ CHÚA KITÔ VUA (2008)

AI THẮNG AI ?

 

1/. Chuyện Vua Kitô và Vương quốc nước trời.

            Ngẫm chuyện ngày xưa. Khi các Đạo sĩ phương Đông vừa xong nghi lễ triều bái Tân Vương Do Thái mới “đăng quang” trong thân phận một “Em bé mới sinh nằm trong máng cỏ”, th́ lập tức, vó ngựa và gươm đao của bạo vương Hêrôđê đă san bằng thị trấn Bêlem với thâm ư quyết làm cỏ mọi mầm mống ôm mộng đế vương mà nạn nhân trực tiếp chính là “những trẻ thơ từ hai tuổi trở xuống”. Kể từ dạo ấy, tiếng khóc của những bà mẹ mất con vẫn c̣n vang vọng hoài trong lịch sử thế giới cứ mỗi độ Giáng Sinh về.

            Sau biến cố chính trị đầy bạo lực dữ dằn đó, nhất là sau những tháng năm dài yên lặng, tưởng chừng cái tên “Vua Giêsu” đă vĩnh viễn đi khỏi ḍng lịch sử thế giới. Th́ đột nhiên, 30 năm sau “biến cố Bêlem”, danh hiệu Vua Giêsu lại đường hoàng xuất hiện trên khắp nẽo đường Palestina, ngang nhiên thách thức cả quyền lực đạo đời ngay tại đế đô Giêrusalem, nơi trị v́ của “Hêrôđê con” không kém ngang tàn bạo ngược và cũng là nơi chấp chính của Tổng trấn Philatô, đại diện cho quyền lực tối cao là hoàng đế Rôma lúc bấy giờ.

            Th́ ra, em bé Giêsu khóc oa oa trong hang lừa máng cỏ được 3 đạo sĩ Phương Đông triều bái là “Vua nước Do Thái” đă lọt lưới trong trận tàn sát của bạo vương Hêrôđê 30 năm trước, và hôm nay, cũng chính “Em Bé ấy” đă là anh chàng thanh niên Giêsu con bác phó mộc Giuse và cô thôn nữ hiền ḥa Maria nơi quê nghèo Na-da-rét đă long trọng “đăng quang vương đế” trong một nghi thức xem ra khá lạ lùng vào một buổi sáng trên triền sông Gio-đa-nô, khi chen chân giữa đám “bụi đời” lội xuống ḍng sông Gio-đa-nô để ông Gioan làm phép rửa :

            “Hồi ấy, Đức Giêsu từ Na-da-rét miền Ga-li-lê đến, và được ông Gioan làm phép rửa dưới sông Gio-đan. Vừa lên khỏi nước, Người liền thấy các tầng trời xé ra, và thấy Thần Khí như chim bồ câu ngự xuống trên ḿnh. Lại có tiếng từ trời phán rằng : “Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài ḷng về Con” (Mc 1,9-11).

            Và cũng khởi đi từ cuộc đăng quang với nghi lễ “phép rửa tại sông Gio-đan” ấy, Vua Giêsu lần lượt loan báo về một “Vương quốc”, một “Triều đại” do chính Ngài chấp chính, cai trị , mà Ngài gọi tên là “Nước Trời”, là “Triều đại Nước Thiên Chúa” :

- Nào : “Thời kỳ đă măn, Triều đại Nước Thiên Chúa đă đến gần. Anh em hăy sám hối và tin vào Tin Mừng.” (Mc 1, 15)

- Nào : một loạt các dụ ngôn để ám chỉ thực tại Nước Trời : “Nước Trời ví như chuyện người kia gieo giống tốt trong ruộng ḿnh…” (Mt 13,24-30), “Nước Trời giống như chuyện hạt cải người nọ lấy gieo trong ruộng ḿnh” (Mt 13,31-32), “Nước Trời cũng giống như chuyện nắm men…” (Mt 13,33), “Nước Trời như chuyện kho báu chôn giấu trong ruộng”… (Mt 13,44), “Nước Trời cũng giống như chuyện một thương gia đi t́m ngọc đẹp..” (Mt 13,45-46), “Nước Trời lại c̣n giống như chuyện chiếc lưới thả xuống biển…” (Mt 13,47-50), “Nước Trời giống như chuyện gia chủ thuê người làm vườn nho…” (Mt 20, 1-16), “Nước Trời cũng giống như chuyện một vua kia mở tiệc cưới cho con ḿnh…” (Mt 22,1-14), “Nước Trời sẽ giống như chuyện mười trinh nữ cầm đèn ra đón tân lang…” (Mt 25,13).

- Nào : Ngài tuyên cáo 8 con đường phúc thật để chiếm được Nước Trời mà nhiều người đă gọi đó là “bản hiến chương Nước trời” : “Phúc cho ai khó nghèo…, hiền lành…, sầu khổ…, khát khao công chính, xót thương người…, tâm hồn trong sạch…, xây dựng ḥa b́nh…, bị bách hại sống công chính…” (Mt 5,1-12)

- Nào : Ngài đề nghị muốn vào được Nước Trời th́ phải hoán cải nên như trẻ nhỏ : “Thầy bảo thật anh em : nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, th́ sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt 18, 1-4) ; và những kẻ dễ đi vào Nước Trời nhất lại là những người nghèo : “Thầy bảo thật anh em, người giàu có khó vào Nước Trời. Thầy c̣n nói cho anh em biết : con lạc đà chui qua lỗ kim c̣n dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa” (Mt 19, 23-24)…

            Và khung trời Palestina thuở ấy rạng rỡ hẳn lên với hàng hàng lớp người đua nhau đến với Ngài như đi trẫy hội. Mọi người bổng dưng rạo rực vui mừng và tràn trề hy vọng về một ngày mai tươi sáng. Từ Capharnaum tới Giêricô, từ hoang mạc tới thị thành, từ ven biển hồ tới lưng chừng đồi núi…đâu đâu cũng nghe những tin vui xiết kể : những kẻ què đi được, những người mù sáng mắt, người điếc nghe, người câm nói, bao nhiêu người phung cùi được lành sạch, những kẻ bại tay, những người loạn huyết, cả những người bị quỷ ma ám hại lâu năm…cũng được chữa lành.

Làm sao mà chẳng tin “Nước của Vua Giêsu đang đến gần”, làm sao mà chẳng muốn tôn Ngài lên làm Minh Chủ để đem về một triều đại thái b́nh thịnh trị, no cơm ấm áo, như lời loan báo từ ngh́n xưa của các sứ ngôn. Dự định đó suưt nữa đă trở thành hiện thực sau biến cố “Năm chiếc bánh và hai con cá”. “Nhưng Đức Giêsu biết họ sắp đến bắt ḿnh đem đi mà tôn làm vua, nên Người lại lánh mặt, đi lên núi một ḿnh” (Ga 6,5-15).

Quả thật, với những thành công vang dội như thế, ai mà chẳng tin rằng : giấc mộng đế vương của Rabbi Giêsu đến từ Na-da-rét sắm trở thành hiện thực nay mai, khi Ngài cùng đoàn môn đệ lên đường trở về Giêrusalem, thành đô muôn đời của các bậc đế vương trong lịch sử Dân Chúa. Hèn chi, hai môn đệ Giacôbê và Gioan con của ông bà Giêbêđê đă thụt tḥ nhờ mẹ đến để định chơi tṛ hối lộ : “Xin Thầy truyền cho hai con tôi đây, một người ngồi bên hữu, một người bên tả Thầy trong Nước Thầy” (Mt 20,20-23)

Thế nhưng oái ăm thay, càng tiến gần về Giêrusalem, Vị Tiên tri đến từ Nadarét càng tung ra những lời rao giảng sao mà khó nghe, sao mà lạ đời : Nào “ai ăn thịt và uống máu tôi sẽ được sống đời đời”, nào “Con Người sẽ bị nộp vào tay kẻ dữ, bị kết án chết và ngày thứ ba sẽ sống lại…”, nào “Ta là mục tử tốt lành sẽ chết cho đoàn chiên…”, nào “hạt lúa ḿ có chết thối đi mới sinh hoa kết trái…”.

Cho dù có những dự báo ảm đạm ấy th́ cuộc khải hoàn vào thành Giêrusalem của Ngài vẫn tạo một ấn tượng bất ngờ cho các cấp lănh đạo đương quyền tại thủ đô bởi những tiếng ḥ reo vang dội : “Hoan hô Con Vua Đa-vít ! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa ! Hoan hô trên các tầng trời” (Mt 21, 9)

Nhưng rồi, chính trong “Bữa tiệc Vượt Qua đến sớm” vào ngày Thứ Năm, Ngài lại làm và nói những điều khiến các môn sinh gần như bị sốc : đích thân rửa chân cho các môn sinh kèm theo huấn dụ : “Thầy là Chúa, là Thầy, mà c̣n rửa chân cho anh em, th́ anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Ga 13,14) ; và nhất là những lời tiên báo thê lương như một lời di chúc, như một  tạ từ vĩnh biệt : “Ḿnh Thày sẽ bị nộp v́ anh em…Máu Thầy sẽ đổ ra cho anh em…”. (Mt 26,26-28).

Và sau đó : BIẾN CỐ “Ngày Thứ Sáu khổ nạn quả thật đă lật nhào tất cả ! Tin Giêsu bị bắt, bị hành hạ, bị kết án đă mau chóng lan ra khắp hang cùng ngỏ hẻm Giêrusalem. Niềm hy vọng về một Minh quân Giêsu và một Triều đại vinh quang do Ngài đem đến đă mau chóng sụp đổ trong cơi ḷng của đại đa số cư dân thủ đô lúc ấy. Từ thiện cảm, tin yêu, hy vọng đă vội đổi sang chán chường thất vọng đến ghét bỏ rẽ khinh. Trước một “Ecce Homo” Giêsu h́nh hài tan nát, thân tàn ma dại, dân chúng đă chọn tha tên cướp Baraba và đồng thanh hô lớn : “Đóng đinh nó vào thập giá”.

Câu chuyện Vua Giêsu và triều đại Nước Thiên Chúa như một chuyện lừa đảo sắp đến hồi kết thúc.

Cho dù “bản án trên thập giá có được viêt bằng 3 thứ tiếng Hy lạp, Do Thái, La Tinh với hàng chữ lớn “GIÊ-SU NA-DA-RÉT, VUA DÂN DO THÁI”, th́ cũng chẳng thuyết phục được đám đông dám đặt hy vọng và tin tưởng vào một ông Vua Giêsu đang bị đóng đinh vào thập giá. Hầu hết các môn đệ lũi trốn. May ra chỉ c̣n mỗi môn đệ Gioan đứng bên cạnh thập giá với Đức Maria để lănh nhận những lời trăn trối sau cùng.

Trong cái không gian ảm đạm của một buổi chiều lênh láng máu, ồn ào bụi bặm của xúc phạm và sĩ nhục, “hồ sơ Vua Giêsu” tưởng đâu đă khép lại với thất bại và buồn tênh, với năn ḷng và chưng hửng, th́ đă chợt sáng lên, cho dầu như một ngọn đèn le lóa. Một chuyện chẳng ai ngờ : Người kẻ trộm bị đóng đinh bên hữu Chúa đă nhận ra một “h́nh hài tan nát, một “Ecce Homo” dở sống dở chết kia chính là một Vị Vua với một vương Quốc đang mở ra tràn trề hy vọng : “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi”. Khi thân thưa những lời như thế, chắc chắn anh ta đă cảm nhận cách xác tín rằng : Giêsu đây chính là Vua, không phải là “loại vua trong thế giới trần tục”, mà là “Vua thật đến từ Thiên Chúa” ; và cũng thế, “Nước của Ngài” không phải là bờ cơi thế gian nhưng là một triều đại của thiêng liêng vĩnh cửu. Và anh đă không thất vọng khi Đức Kitô đă hồi đáp : “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng”.

Động lực nào, nhân tố nào đă mở mắt tâm hồn của người kẻ trộm để có được niềm tin như thế ? Chúng ta chỉ có thể trả lời được rằng : ngoài lư do ân sủng là yếu tố quyết định, phải nói rằng, sự sám hối, trở về trong khiêm hạ đă làm cho đôi mắt tâm hồn của tên trộm mở ra.

2/. Con đường tiến vào vương quốc của Đức Kitô

Tin Đức Kitô-Tử nạn-phục sinh là Vua và chấp nhận “tiến vào vương quốc của Ngài” trên những nẻo đường của Tin Mừng muôn đời và muôn nơi vẫn là chuyện của t́nh yêu và ân sủng. Bởi v́ đó chính là cách thế mà Thiên Chúa, Đức Kitô đă dùng để trao gởi đức tin, để ban niềm hy vọng cho bao con người như Maria Mađalêna, Giakê, Matthêô, như Augustinô, như Charles de Foucauld…

Kể từ lúc Vua Giêsu đăng quang khai mạc triều đại nước Thiên Chúa cho đến măi hôm nay, đă có không biết bao nhiêu tâm hồn, bao nhiêu cuộc sống đă quyết trao thân gởi phận cho Vị Mục Tử Nhân Lành, Đấng sẵn sàng đi t́m con chiên lạc, sẵn sàng cúi xuống để rửa chân, sẵn sàng chết để yêu thương và tha thứ, sẵn sàng chấp nhận đồng h́nh đồng dạng với những kẻ bé mọn khiêm hèn, khổ đau bệnh tật.

V́ thế, để dấn thân vào Vương quốc đó, để thuộc về thần dân của Vua Kitô, nhân loại phải mang một “căn cước khác”, một hộ chiếu khác, không dựa trên tiền tài hay sắc đẹp, quyền lực hay ma mánh, dối trá hay thủ đoạn…Phải có con mắt mới tinh, trong sáng, phải có cơi ḷng thanh thản bao dung, phải có con tim hiền lành và khiêm hạ, phải xây cuộc sống sao cho đong đầy hy sinh và sám hối…mới có thể nh́n ra Đức Kitô, Vị Vua quyền năng đang hiện diện ở đó trong những người nghèo, trong những người anh em chung quanh, trong một xă hội nhầy nhụa và phức tạp, trong mọi cơ chế tưởng chừng như đă vắng bóng Thiên Chúa tự thuở nào. V́ đă không có “con mắt như thế, cái nh́n như thế, niềm tin như thế” nên những kẻ dữ trong dụ ngôn “Ngày Phán xử” đă ngạc nhiên : “Có bao giờ chúng con đă thấy Chúa đói, khát, hoặc là khách lạ, hoặc trần truồng, đau yếu hay ngồi tù, mà không phục vụ Chúa đâu ?”.

Mà không chỉ những “kẻ dữ đàng kia” đă không nhận ra h́nh hài Thiên Chúa đang hiện diện ; chắc chắn không ít lần, chính chúng ta, những Kitô hữu, những môn đệ của Chúa Giêsu, cũng đă mù tịt hay, ít nhất cũng nghi ngờ sự nhập thể của Ngài trong những biến cố đời thường hôm nay. Mới đây thôi, khi đứng trước lực lượng công an với dùi cui và súng ống, với chó dữ và thép gai, có không ít người đă lo sợ rằng đám dân Công giáo ô hợp không tất sắt trong tay thế nào cũng bị đè bẹp và dánh cho tan tác. Thánh giá kia, tượng Mẹ nọ rồi cũng phải bị bứng đi để nhường chỗ cho sức mạnh của Đảng, của Nhà nước. Mà quả thật, Ṭa Khâm Sứ, khu đất của giáo xứ Thái Hà đă bị dọn sạch, như Hêrôđê dọn sách thành Bêlem thuở trước. và c̣n hơn thế nữa : hệ thống truyền thông mở hết công suất để bôi nhọ và kết án, để cả vú lấp miệng em. Chẳng khác nào chiến dịch tuyên truyền và kết án của tập đoàn tư tế Do Thái dành cho Vua Kitô cách đây 2000 năm trước tại thủ đô Giêrusalem. Nhưng câu ngạn ngữ của Trung Hoa chưa bao giờ sai nghĩa : “Một cây đỗ th́ ồn ào hơn cả cánh rừng đang mọc”. Vâng, cũng chính trong những thời khắc hổn tạp của bạo lực và dối trá ập xuống trên Giáo Hội tại thủ đô Hà Nội hay những bách hại, hận thù giáng xuống trên các cộng đoàn Công Giáo khác ở Phi Châu, Ấn Độ…, th́ ngoài kia nơi những họ đạo xa xôi của các buôn làng dân tộc, nơi những nhà thờ của những vùng quê hẻo lánh, hay nơi những thánh đường sầm uất đông vui, đang dâng lên những thánh lễ, đang âm vang những lời kinh hạt Mân Côi, đang lấp lánh những ánh nến nguyện cầu, chẳng khác nào hàng vạn bông hoa đang rực rỡ khoe sắc, từng vạn cánh chim đang nhảy múa hát ca, hay hàng triệu triệu mầm cây đang âm thầm vở đất đâm chồi vươn lên sức sống.

Cũng thế, trong cái thế giới đang bị bao phủ bởi bóng tối âm u màu tử địa của nạn phá thai, nạo thai, của ly dị và buông thả tính dục, của tự do phóng túng và hưởng thụ trụy lạc, của bạo lực khủng bố và hận thù sắc tộc, tôn giáo… th́ cũng trong thế giới ấy đang có hàng triệu mái nhà ấm cúng thân thương đă vang lên bao tiếng khóc oa oa chào đời của bao nhiêu em bé, đang chất chứa tiếng cười hạnh phúc b́nh an của những đôi vợ chồng chung thủy, tín trung, giọng nói thân thương của những người cha, người mẹ trách nhiệm và đạo đức…và cũng trong thế giới đó, có bao nhiêu tiếng hát thánh thiện, trong sáng vang lên tự đáy ḷng của những thanh niên nam nữ quảng đại hy sinh sống đời thánh hiến, linh mục, vang vọng tiếng cười vui lư tưởng của những bạn trẻ chọn lối sống anh hùng và phục vụ…

Vua Kitô đă chỗi dậy cùng với triều đại cứu độ của Ngài đang từng ngày chinh phục thế giới. Vương quốc của t́nh yêu và sự sống, của ân sủng và b́nh an vẫn đang từng ngày lớn lên như “hạt cải”, như mầm non giữa ḷng đất để chờ ngày kết trái đâm bông.

Trong niềm tin của người Kitô hữu muôn nơi và muôn thuở, trong cuộc chiến “Ai thắng ai” giữa “ma vương” và vương quốc của bóng tối, sự dữ với Vua Kitô và vương quốc của chân lư và t́nh yêu, th́ kết cuộc không phải đợi đến ngày tận thế, những chắc chắn đă hiện thực rồi, đă hiện thực ngay từ hang đá Bêlem, hay mái nhà Na-da-rét, nơi ṭa án Philatô hay đỉnh đồi Núi Sọ. Điều quan trọng c̣n lại hôm nay dành cho chị cho anh cho tôi, cho tất cả những ai cháp nhận làm thần dân của Vua Kitô trong Vương quốc của Ngài đó chính là không ngừng :

- Hoán cải để từng ngày trở nên bé nhỏ khiêm hạ.

- Quảng đại để không ngừng yêu thương tha thứ.

- Quên ḿnh để hy sinh, phục vụ

- Trung tín để từng ngày bước đi trong Lời Chúa và thực thi những giá trị của Tin Mừng.

            Được như thế hôm nay, để

            Ngày nao đạt tới Nước trời

            Ngàn thu hưởng phúc Vua tôi chẳng cùng.

 

Giuse Trương Đ́nh Hiền

 

LỄ CHÚA BA NGÔI (A, 2008)

Một đôi dấu chân trên bờ ctá phẳng !

 

1. Chân lư Thiên Chúa Ba Ngôi qua tiến tŕnh mặc khải :

            Cho dẫu trong niềm tin cao ngất khi họp nhau thờ phụng Đấng Tối Cao nơi thánh điện dành cho Người, thi “Dân riêng của Chúa” vẫn khắc khoải, hoài nghi, tự hỏi Thiên Chúa là ai, như những lời sau của thánh vịnh 23 :

            Hỡi cửa đến, hăy cất cao lên,

            Cao lên nữa, hỡi cửa đền cổ kính,

            Để Đức Vua vinh hiển ngự vào.

            Đức Vua vinh hiển đó là ai ?

            Là Đức Chúa mạnh mẽ oai hùng

            Đức Chúa oai hùng khi xuuất trận.

            Hỡi cửa đền, hăy cất cao lên,

            Cao lên nữa, hỡi cửa đền cổ kính,

            Để Đức Vua vinh hiển ngự vào.

            Đức Vua vinh hiển đó là ai ?

            Là Chúa Tể càn khôn :

            Chính Người là Đức Vua vinh hiển...

 

            Trong khi đó, tâm thức muôn nơi muôn thở của con người vẫn muốn thấy, muốn nắm bắt, muốn tôn thờ, phũ phục, muốn quan hệ tiếp giao với một Thượng Đế gần gũi, cụ thể, không cần phải thánh thiện cao sang, không cần phải uy quyền choáng ngợp ǵ hết, miển sao mắt thấy, tai nghe, tay rờ, chân đụng là được, như “sự cố Sinai năm nào”, khi dân Ít-ra-en với sự đồng thuận của tư tế Aharon, quyết định “đúc h́nh ḅ làm thượng đế”, trong buổi dân Ít-ra-en xuất hành về Đất hứa. (Xh 32,1-6).

            Và Thiên Chúa đă thịnh nộ trước cái tội “mê tín dị đoan” nầy. Suưt nữa toàn dân Ít-ra-en bị xóa tên, nếu không có lănh tụ Mô-sê ra công cầu khẩn. Và qua biến cố nầy, nhân loại lại được chính Thiên Chúa dạy cho biết thêm rằng : “Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín, giữ ḷng nhân nghĩa với muôn ngàn thế hệ, chịu đựng lỗi lầm, tội ác và tội lỗi, nhưng không bỏ qua điều ǵ...” (Xh 34,5-8).

            Khi đọc lại trích đoạn sách Xuất Hành trên trong thánh lễ kính mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, phải chăng Phụng vụ muốn ngụ ư rằng : T̀NH YÊU chính là bản chất sâu thẳm của huyền nhiệm Thiên Chúa, một t́nh yêu sẽ được dần dần vén mở để con người có thể trực tiếp khám phá, tiếp cận, gặp gỡ và kính yêu mà không cần phải qua một trung gian nào hết.

            Con đường đó, sự mặc khải tối hậu đó, phần nào đă được “giải mả” trong chính cuộc đàm thoại giữa một người trí thức đầy ḿnh là luật sĩ Nicôđêmô và vị tiên tri áo vải đến từ Na-da-rét mà trích đoạn Tin Mừng Thánh Gioan hôm nay thuật lại qua mệnh đề ngắn gọn như một lời tục ngữ :

            “Thiên Chúa yêu thế gian đến nổi đă ban Con Một, để ai tin vào Con của Người th́ khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16)

Và cũng từ môi miệng của Vị Thiên Chúa làm người ấy, khi sắp sửa ĺa xa các môn sinh để dấn thân vào cuộc khổ nạn, đă long trọng hứa ban một Ngôi vị Thiên Chúa khác :

“Khi Đấng Bảo Trợ đến, Đấng mà Thầy sẽ sai đến với anh em từ nơi Chúa Cha, Người là Thần Khí sự thật phát xuất từ Chúa Cha, Người sẽ làm chứng về Thầy” (Ga 15,26)

Th́ ra, theo chính chứng từ của “Đấng hằng ở nơi cung ḷng Chúa Cha” (Ga 1,18), của Đấng được mệnh danh là “Emmanuel”, Thiên Chúa không phải chỉ là một “Ngôi vị cô độc một ḿnh”, một Thượng Đế “tṛn trịa, viên măn trong cái khối đầy đặn, khép kín...” mà là một “Thiên Chúa sẻ chia và tương giao ngôi vị” giữa Cha, Con và Thánh Thần.

Mà có phải chỉ bằng lời nói suông thôi đâu ! Để ấn chứng và hỗ trợ cho chân lư mặc khải tối hậu mà Ngài sẽ công bố trong những ngày công khai truyền giảng Tin Mừng, chính Thiên Chúa đă đạo diễn một cuộc “thần hiển” hoành tráng bên bờ sông Giođan khi Chúa Giêsu Con Một Ngài chịu phép rửa : “Vừa lên khỏi nước, Người liền thấy các tầng trời xé ra, và thấy Thần Khí tựa chim bồ câu ngự xuống trên ḿnh. Lại có tiếng từ trời phán rằng ; “Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài ḷng về con”. (Mc 1,10-11)

Như vậy, chúng ta có thể nói được rằng, cùng với Đức Giêsu người Na-da-rét, Kitô giáo đă h́nh thành trên một nền tảng giáo lư mới về Thiên Chúa : Thiên Chúa Ba Ngôi. Chính trên nền tảng cốt yếu nầy, Đức Kitô đă phát lệnh cho các môn sinh cử hành nhiệm tích Thánh Tẩy nhân danh Ba Ngôi để tái sinh tất cả những ai gia nhập đoàn Dân mới như được ghi lại trong Tin Mừng Matthêô đoạn 28, câu 19 : “Anh em hăy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần”.

Và cũng từ niềm tin cốt lơi đó, Thánh Phaolô trong thư của Ngài gởi giáo đoàn Côrintô đă dùng lời chào chúc nhân danh Chúa Ba Ngôi để tạm biệt cộng đoàn, một câu chúc đă được chọn làm lời khai mạc Phụng vụ Thánh lễ : “Nguyện xin ân sủng Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, t́nh yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần…” (2 Cr 13,13).

            Trong khi đó, niềm tin của Dân Chúa vào mầu nhiệm Ba Ngôi suốt hai mươi thế kỷ qua vẫn xuyên suốt tín trung với hai bản Tuyên Xưng đức tin nền tảng được gọi là Hai Kinh Tin Kính : Kinh Tin Kính Các Tông Đồ và Kinh Tin Kính Nicêa-Constantinopoli. Và rồi, qua kinh nguyện và Phụng vụ được thể hiện từng giây phút trên mọi miền thế giới, mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi như nhịp đập của trái tim, không ngừng mang sức sống cho Nhiệm thể Chúa Kitô, cho mỗi một thành viên được ghi dấu ấn Ba Ngôi trên cuộc đời nhờ bí tích Rửa tội.

            Quả thật, cái chân lư nhiệm mầu cao cả tưởng đâu cứ “xa tắp trên chín tầng mây” đó lại là một “sự sống đang bao trùm mọi sự sống”, là một t́nh yêu đang đốt nóng mọi trái tim, là một hiện hữu đang đồng hành và sánh bước với mọi thân phận người trên mọi nẽo đường trần thế. Vâng, đó chính là dung mạo Thiên Chúa của Người Kitô hữu, Thiên Chúa được Đức Kitô mạc khải cho nhân loại, Thiên Chúa Ba Ngôi, Cha, Con, Thánh Thần.

 

2. Thiên Chúa Ba Ngôi : Thiên Chúa của yêu thương

            Không phải đợi cho đến Thánh Gioan Tông Đồ phát biểu : “Thiên Chúa là t́nh yêu”, mà hàng ngàn năm trước, các tổ phụ, các sứ ngôn cũng đă từng tuyên bố : “Có người mẹ nào không thương con dạ nó mang ? Nhưng nếu có người mẹ nào như thế đi nữa, th́ riêng Ta, Ta không bao giờ quên ngươi. Thiên chúa toàn năng đă phán như thế.” (Isaia). Và hôm nay, trích đoạn ngắn ngủi sách Xuất hành vừa được công bố, Thiên Chúa cũng đă bộc lộ một thoáng “lư lịch trích ngang” của chính ḿnh : Đức Chúa đi qua trước mặt Môsê và xướng : “Đức Chúa ! Đức Chúa ! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu ân nghĩa và thành tín” (BĐ 1). Và nếu phải học sống với Thiên Chúa làm sao, ứng xử với Thiên Chúa thế nào, th́ lời thoại thân mật với Thiên Chúa của Môsê năm nào trên núi Sinai luôn là một gợi ư đầy thâm thúy và hiện sinh : “Xin Ngài đi với chúng con…Xin Ngài tha thứ những lỗi lầm và tội lỗi chúng con…”

            Vâng, tin vào một Chúa Ba Ngôi có nghĩa là tin vào một Đấng đang đồng hành với chúng ta trên mọi nẽo đường cuộc sống, tin vào một Đấng có thể cảm thông sự yếu hèn của phận người để khoan dung tha thứ, tin vào một Đấng sẵn sàng biết chia sẻ và cho đi, sẵn sàng trở nên nghèo hèn và yếu đuối, sẵn sàng bị đóng đinh để chết v́ yêu thương. Tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi đó chính là tin một Thiên Chúa “không nỡ bẻ găy cây lau bị dập”, một Thiên Chúa quan pḥng chăm sóc từng con chim sẻ trên cây, từng cây huệ ngoài đồng. Thiên Chúa ba Ngôi, đó cũng là “Người Cha già nhớ thương đứa con trai hoang đàng, chiều chiều ra ngơ vắng đón đợi, là Vị Mục tử sẵn sàng bỏ chín mươi chín con chiên trong đàn để đi t́m một con chiên lac. Thiên Chúa Ba Ngôi, cũng là “Cha chúng con ở trên trời sẵn sàng ban cho lương thực hằng ngày và tha nợ chúng con”… Đó cũng chính là Thiên Chúa mà Tin mừng Gioan hôm nay đă nói với chúng ta : “Thiên Chúa đă yêu thế gian đến nổi đă ban Con Một Người, ngơ hầu ai tin vào Ngài th́ khỏi phải hư đi, nhưng được sống đời đời.”.

            Tuy nhiên, không phải lúc nào chúng ta cũng có được niềm tin như thế. Rất nhiều khi, chúng ta bị cám dỗ rơi vào một khoảng hồ nghi mà ở đó, Chúa như trốn biệt đâu mất. Thiên Chúa không “trốn đi đâu cả”. (Như tiếng Ngài thỏ thẻ trong câu chuyện “dấu chân trên cát” : “Nếu trên bờ cát phẳng chỉ c̣n lại một đôi dấu chân, th́ đó không phải là của con đâu, mà là của chính Ta đó. Dễ hiểu thôi, v́ con đang được ta bồng ẳm” !

 

3. Thiên Chúa Ba Ngôi : Thiên Chúa của hiệp nhất

            H́nh ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi luôn gợi lên một cộng đoàn, một gia đ́nh. Gia đ́nh Ba Ngôi Thiên Chúa : Cha Con Thánh Thần. Mà không phải chỉ gợi lên, đó chính là căn tính, là bản chất của sự sống bên trong Thiên Chúa. Bởi v́, nếu Thiên Chúa là t́nh yêu, th́ Thiên Chúa phải là sự hiệp nhất. T́nh yêu luôn đ̣i sự nối kết. Và Thiên Chúa Ba Ngôi chính là sự nối kết tuyệt vời nhất, cao sâu nhất, bền vững nhất. Đức Kitô đă bộc lộ sự hiệp nhất đặc biệt nầy trong “lời nguyện tế hiến” trong bữa tiệc ly trước khi đi vào cuộc khổ nạn : “Xin Cha cho chúng được nên một như chúng ta là một”.

Chúng ta tuyên xưng và sống mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi không phải chỉ dừng lại nơi những công thức tín điều hay loay hoay đi t́m những biểu tượng, những ảnh h́nh, những diễn ngữ để cắt nghĩa một cách trừu tượng và xa rời cuộc sống ; nhưng chính là sống t́nh hiệp nhất yêu thương theo “mô h́nh Ba Ngôi” trong gia đ́nh cũng như ngoài xă hội. Ước ǵ mỗi một gia đ́nh Kitô hữu là một cộng đoàn phản ảnh dung mạo Ba Ngôi. Cha Mẹ Con Cái hiệp nhất với nhau trong t́nh yêu Thiên Chúa và nhờ t́nh yêu Thiên Chúa thánh hóa và thăng tiến mỗi ngày.

Một khi dung mạo t́nh yêu và hiệp nhất của Thiên Chúa Ba Ngôi tỏa sáng trong mọi gia đ́nh Kitô hữu, nơi mọi hội đoàn tông đồ, mọi cộng đoàn Giáo Hội địa phương...th́ chắc chắn bộ mặt của thế giới sẽ biến đổi : yêu thương sẽ thay oán thù, thứ tha sẽ thay lăng nhục, an ḥa sẽ thế chỗ tranh chấp, chân lư sẽ đẩy lùi lầm lạc...

Như thế, Thiên Chúa Ba Ngôi không c̣n là một “tín điều khó hiểu” để tranh luận hay biện phân lư thuyết, mà là một gọi mời để mở lối yêu thương và xây dựng thuận ḥa; cũng chẳng c̣n là một chân lư khô khan trừu tượng để chỉ biết học thuộc ḷng như một sáo ngữ, mà là một dấn thân ra đi gieo rắc niềm vui và gieo trồng hoàn thiện, như lời hiệu triệu của Thánh Phaolô trong cuối bức thư gởi giáo đoàn Côrintô được chọn đọc hôm nay : “Anh em hăy vui mừng và gắng nên hoàn thiện. Hăy khuyến khích nhau, hăy đồng tâm nhất trí và ăn ở thuận ḥa. Như vầy, Thiên Chúa là nguồn mạch yêu thương và b́nh an, sẽ ở cùng anh em”.

 

CHÚA NHẬT KITÔ VUA

Vua Kitô vẫn tiếp tục đăng quang

Dẫn nhập đầu lễ : Kính thưa cộng đoàn,

            Hôm nay, toàn thể Hội Thánh hân hoan cử hành lễ Chúa Giê-su Ki-tô Vua vũ trụ. Thánh lễ nầy được ĐGH Piô XI thiết lập qua thông điệp QUAS PRIMAS ngày 11.12.1925, với chủ đích qui hướng toàn nhân loại trong Vương quốc t́nh yêu của Đức Kitô, một nhân loại đang rạn nứt, phân rẽ, hận thù sau thế chiến thứ nhất. Thánh lễ nầy lại được cử hành vào Chúa nhật cuối cùng của Năm Phụng vụ với chủ ư : Chúa Giê-su Ki-tô làm Vua chính là đĩnh cao, là điểm đến của một chặng đường sống đức tin vào Chúa Kitô của Dân Chúa. Trong Thánh lễ nầy, chúng ta tôn thờ Chúa Giê-su là Vua trên hết các vua, là Chúa trên hết các Chúa, Đấng là Alpha và Ômêga, là nguyên khởi và là cùng đích. Đấng sẽ qui tụ toàn nhân loại trong Vương quốc duy nhất, Vương quốc của t́nh yêu và ân sủng, của chân lư và tự do. Đồng thời cũng là dịp để chúng ta điều chỉnh lại tư cách thần dân của ḿnh trong vương quốc của Đức Kitô, một Vương quốc chỉ dành riêng cho những ai thành tâm hoán cải và đón nhận Ngài cho dẫu phải ngang qua con đường Thập giá (như tên trộm ngày nào bị đóng đinh bên hữu Chúa).

Giờ đây, để xứng đáng cử hành Mầu nhiệm Thánh, chúng ta cùng thú nhận tội lỗi.

 

Giảng Lời Chúa :

 

1. Vị Vua nào và vương quốc nào đang hấp dẫn chúng ta ?

Cách đây 2000 năm, có biết bao người Do Thái khi nghe tin có chàng thợ mộc Giêsu đến từ Na-da-rét vừa đi rao giảng một Tin Mừng đặc biệt vừa cho kẻ điếc nghe, kẻ què đi, kẻ phung cùi được sạch...đă ào ạt đổ xô đến với Ngài cùng với biết bao điều ươm mơ ước vọng : Đấng Messia đă đến rồi chăng ? Vua Kitô đă đến hồi đăng quang chấp chính ?. Rồi khi thấy Ngài làm cho cuồng phong bảo táp lặng yên, cho người chết sống lại, và nhất là khi thấy Ngài đă từng dùng mấy chiếc bánh và vài con cá nhỏ mà làm nên bữa tiệc nuôi cả đám dân mấy ngàn người …có nhiều kẻ đă muốn tôn Ngài làm Vua, muốn cuốn gói theo Ngài để may ra kiếm chác được một chức tước chốn cung đ́nh khi thời của Ngài đă đến (như kiểu hai tông đồ Gioan và Giacôbê con của Giêbêđê đă nhờ mẹ thỉnh cầu Ngài cho một đứa ngồi bên tả, một đứa ngồi bên hữu !) ; và có lẻ phần đông đám dân đen muốn tôn Ngài làm vua chỉ với một lư do giản đơn : được no cơm ấm áo, khỏi thuế má ngục tù, khỏi bị bóc lột đọa đầy,  khỏi cảnh nô lệ nhục nhằn của một dân mất nước…

Thế nhưng oái ăm thay, càng tiến gần về Giêrusalem, thủ đô của vương quyền, điểm đến của những ai mang mộng đế vương, th́ Vị “Rabbi” đến từ Nadarét lại tung ra những lời rao giảng đă làm chưng hửng đoàn lũ đang nô nức tháp tùng và kỳ vọng nơi Ngài : Nào “Con Người sẽ bị nộp vào tay kẻ dữ, bị kết án chết và ngày thứ ba sẽ sống lại…”, nào “Ta là mục tử tốt lành sẽ chết cho đoàn chiên…”, nào “hạt lúa ḿ có chết thối đi mới sinh hoa kết trái…”. Và trong khi bàn dân thiên hạ đang nô nức đợi chờ một “Mô-sê mới” sẽ xuất hiện vào đúng dịp lễ Vượt Qua để chấp chánh đăng quang với quyền uy choáng ngợp đánh tan bè lũ đế quốc Rôma đang đè đầu cởi cổ “Dân ưu tuyển của Chúa”, th́ đùng một cái, “bản tin của ngày Thứ Sáu trước lễ Vượt Qua” đă làm nổ tung tất cả ! Giêsu đă bị môn đồ phản bội, bị bắt trong vườn cây Dầu, bị Hội đồng cộng tọa kết án, bị trao cho tổng trấn Philatô tuyên án tử h́nh thập giá và bị đóng đinh giữa hai tên trộm cướp !

Cũng v́ lư do ấy, mà đă có không ít người trước đó mấy hôm tay c̣n quay tít cành lá ô-liu miệng hô vang lời “vạn tuế Đấng nhân danh Chúa mà đến, hoan hô Con vua Đa-vít”, trong khí thế của những thần dân tháp tùng một đấng Quân vương hiển hách, th́ vào “ngày thứ Sáu định mệnh” nầy, đă hậm hực trở cờ : “đóng đinh nó di, đóng đinh nó vào thập giá” !

Cho dù “bản án trên thập giá có được viêt bằng 3 thứ tiếng Hy lạp, Do Thái, La Tinh với hàng chữ lớn “GIÊ-SU NA-DA-RÉT, VUA DÂN DO THÁI”, th́ cũng chẳng thuyết phục được ai c̣n chút hy vọng cỏn con rằng đằng sau cái thân xác bê bết máu, cái thân h́nh tàn tạ rách nát bị treo trên thập giá kia là một Vua Giêsu uy quyền và chiến thắng ! Quả thật, với không gian thê thảm của Đồi Sọ chiều hôm ấy, không ai có đủ tầm nh́n xa hơn nữa để nhớ lại và hiểu chính lời của Đức Giêsu đă nói trước ṭa Philatô : “Nước tôi không thuộc về thế gian nầy…Chính Ngài nói rằng tôi là vua. Tôi sinh ra và đă đến thế gian nầy v́ điều nầy : đó là để làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía của sự thật th́ nghe tiếng tôi” (Ga 19,36-37).

 

2. Để nhận ra Vua Kitô và Vương quốc của Ngài

            Nhưng lạ lùng thay ! Chính trong lúc tưởng như cả rừng người trên Đồi Sọ hôm ấy đă thất vọng hoàn toàn về “tên tử tội Giếu cứ lặng thinh trên thập giá”, mặc bao lời thách thức và sỉ nhục :”Nếu ông là vua dân Do thái, th́ hăy cứu lấy ḿnh đi”, th́ vẫn c̣n có một người hướng về phía “Người tử tội đáng thương” kia để nhận ra “đó chính là Vị Vua đích thật và Vương Quôc của Ngài đang hiện hữu”. Vâng, người trộm bên hữu, sau khi trách mắng “tên đồng đảng xấc xược”, anh ta đă quay về phía Đức Giêsu và thưa lên những lời mà có lẽ đức tin của chúng ta hôm nay cũng chỉ là cuộc phấn đấu để được hiện thực chính lời thân thưa đó : “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi”. Và anh đă không thất vọng khi nhận được hồi đáp : “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng”.

            Nhận ra vương quyền của Chúa Giêsu như Phêrô trong biến cố “Biến h́nh trên núi Tabo” th́ quá dễ ; hay bị khuất phục bởi sức mạnh làm cho “ngă ngựa” như Phaolô trên đường Đa-mat th́ c̣n nói làm ǵ ! Đằng nầy, dám liều ḿnh để tin vào một “Vương Quốc” đến từ một con người sắp ĺa đời trong cái chết thảm thương tủi nhục th́ quả là một đức tin phi thường mà nếu không có ân sủng chắc chắn sức tự nhiên con người không thể vươn tới !

Cùng với hồng ân của Thiên Chúa, phải chăng chính ḷng khiêm hạ của trái tim ăn năn sám hối đă làm cho đôi mắt tâm hồn của tên trộm mở ra để nh́n thấy một điều kỳ diệu mà biết bao người không thể thấy được, để tin vào một điều mà không ai có thể tin được ! Và đó chính là cách thế, là con đường Thiên Chúa dùng để mặc khải chân lư của Ngài, để biểu tỏ Vương quyền của Ngài, để bộc lộ Vương quốc của Ngài : phải ăn năn sám hối, phải khó nghèo khiêm hạ, phải trở nên bé nhỏ : “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, v́ Cha đă giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều nầy, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn” (Mt 11,25).

Suốt 2000 năm nay có biêt bao “tên trộm” như Maria Mađalêna, như Giakê, như Matthêô, như Augustinô, như Charles de Foucaulh... đă quay về như thế để trao thân gởi phận cho Vị Mục Tử Nhân Lành sẵn sàng đi t́m con chiên lạc, cho Vị Tôn sư sẵn sàng cúi xuống để rửa chân học tṛ, cho người bạn sẵn sàng chết để yêu thương và tha thứ, và cho Vị Vua sẵn sàng đón nhận kẻ bạc phước cùng đường vào trong “Vương quốc của sự thật và sự sống, của thánh thiện và ân sủng, Vương quốc công chính, yêu thương và công b́nh”. (Kinh Tiền Tụng)

            Và cũng chính v́ thế mà chúng ta mới hiểu được những lời của Thánh Phaolô khi Ngài giới thiệu cái nội dung căn bản của Tin Mừng mà Ngài rao giảng cho muôn dân : “Trong khi Do Thái đ̣i hỏi những điềm thiêng dấu lạ, c̣n người Hy Lạp t́m kiếm lẽ khôn ngoan, th́ chúng tôi lại rao giảng một Đức Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi...Đấng ấy chính là Đức Kitô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa” (1 Cr 1, 22-24).

 

3. Vua Kitô vẫn tiếp tục đăng quang trong thế giới hôm nay

            Với Phụng vụ lễ Chúa Kitô làm Vua, Hội Thánh c̣n muốn nói với chúng ta điều ǵ ?

Nói rằng : Vua Kitô vẫn c̣n đang tiếp tục đăng quang trong thế giới và Vương Quốc của Ngài đang từng ngày mở rộng đến mọi biên cương.

Nếu ngày xưa, Đức Kitô đă lựa chọn

Ø      khoảnh khắc của một “đêm đông Bê lem” với h́nh hài một bé thơ mỏng manh yếu đuối để nhận lănh thái độ tôn thờ phủ phục của Ba Vua phương đông với vàng nhủ hương và mộc dược ; th́ hôm nay Ngài cũng đăng quang như thế trong bao thân phận của những bào thai bị giết chết, của những trẻ em mồ côi lây lất bên vệ đường, của những trẻ em khổ nghèo, khuyết tật và là nạn nhân của bao bất công, đối xứ tàn tệ đang cần được bảo vệ yêu thương và trân trọng.

Nếu ngày xưa, Đức Kitô đă lựa chọn

Ø      khoảnh khắc của “buổi sáng bên ḍng sông Giođan” để chen vai sát cánh với trăm vạn anh em để xin được Gioan làm phép rửa mà sau đó là lời tuyên bố chính thức của Chúa Cha để ấn chứng vương quyền : “Đây là Con yêu dấu của Ta. Các ngươi hăy nghe lời Người” ; th́ hôm nay Ngài cũng đăng quang như thế giữa bao nhiêu thanh niên nam nữ vất vưởng nhọc mệt hay lạc lối lầm đường trên muôn vạn nẽo đường cuộc sống, nơi các trường học, các công xưởng... đang cần những chứng từ, những mẫu gương, những cơ hội để đưa họ trở về chân thiện mỹ.

Nếu ngày xưa, Đức Kitô đă lựa chọn

Ø      khoảnh khắc của “cái giờ” bi đát trước ṭa án Philatô để long trọng tuyên cáo “Ông nói đúng. Tôi là Vua” trong tấm thân thảm thương rách nát của một tên tội đồ bị xử án ; th́ hôm nay Ngài cũng đăng quang như thế trong thân phận của bao nhiêu “tù nhân lương tâm”, bao nhiêu những người công chính, bao nhiêu những ngôn sứ của tự do, dân chủ, công bằng xă hội... bị kết án bất công, bị đọa đầy bách hại đang cần sự liên đới, hỗ trợ, cảm thông để có thể đương đầu và trụ vững.

Và nếu ngày xưa, Đức Kitô đă lựa chọn

Ø      khoảnh khắc cô đơn sầu thảm khi bị đóng đinh trên cây khổ giá đành để đón nhận niềm tin của tên tử tội khi ngước mắt van xin : “Khi Ngài vào Nước Ngài xin nhớ đến tôi” ; th́ hôm nay, Ngài cũng đăng quang như thế khi tái diễn Hy tế Thập Giá trên bàn thờ để những ai chấp nhận thuộc về Ngài dám hy sinh tất cả, dám chết đi cho chính ḿnh để tháp tùng với Ngài tiến bước vào lộ tŕnh phục sinh trong Vương Quốc của sự sống.

Và như Đức Kitô đă long trọng tuyên cáo trong “bản Hiến chương Nước Trời” vào lúc khai mạc hành tŕnh loan báo Nước Thiên Chúa : “Phúc cho ai hiền lành, sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp,...phúc cho ai có tâm hồn trong sạch, sẽ được nh́n thấy Thiên Chúa...”, cho nên, để nhận ra Vua Kitô giữa đời thường hôm nay, để dấn thân vào Vương quốc Kitô đang rộng mở, để thuộc về đoàn dân của Vua Kitô đang văy gọi, chúng ta lại phải mang một “căn cước khác”, một hộ chiếu khác, không dựa trên tiền tài hay sắc đẹp, quyền lực hay ma mánh, dối trá hay thủ đoạn…nhưng với con mắt mới tinh trong sáng, với có cơi ḷng thanh thản bao dung, với con tim hiền lành và khiêm hạ, và với cả hy sinh và sám hối…

            Vâng , trong thế giới nầy đang hiện hữu một  Vị Vua và Vương Quốc như thế. Cho dù có một đôi lúc, chúng ta tưởng rằng Thiên Chúa đă vắng bóng, đă thua cuộc. Cho dẫu hàng ngày khắp đó đây vẫn c̣n vang rền tiếng súng của hận thù chiến tranh, vẫn c̣n bao tai ương bất ngờ ập xuống : sóng thần, động đất, bảo lụt cuồng phong, như trận bảo lốc vùa qua ở Bangladesh làm chết mấy ngàn người chỉ trong khoảnh khắc, vẫn c̣n bao tật bệnh, đói nghèo, bất công bủa vây khắp chốn...th́ ở ngoài kia nơi thảo nguyên xanh mát, vẫn có hạng vạn bông hoa đang rực rỡ khoe sắc, ngoài khung trời xanh bao la kia, có từng vạn cánh chim đang nhảy múa hát ca, và trên bao nhiêu dăy trường sơn bát ngát, hang triệu triệu mầm cây đang âm thầm vở đất đâm chồi vươn lên sức sống ... và nhất là, trong hàng vạn mái nhà ấm cúng thân thương đang vang lên bao tiếng khóc oa oa chào đời của bao nhiêu em bé trong ṿng tay yêu thương của những người cha, người mẹ đạo đức thánh thiện ; ở giữa trăm ngàn công xưởng trên thế giới có hàng triệu bàn tay những người công nhân liêm chính, tốt lành, ở giữa hàng hàng lớp lớp thanh niên nam nữ vẫn c̣n có bao nhiêu tâm hồn quảng đại anh hùng hiến thân cho lư tưởng phục vụ anh chị em trong cuộc sống tu tŕ hay trong những tổ chức thiện nguyện… Vâng, vương quốc của t́nh yêu và sự sống, của ân sủng và b́nh an vẫn đang từng ngày lớn lên như “hạt cải”, như mầm non giữa ḷng đất để chờ ngày kết trái đâm bông…

Tóm lại, lễ Chúa Ki-tô Vua hôm nay, vừa mời gọi chúng ta tái khẳng định niềm tin vào Chúa Ki-tô, Vua vũ trụ, là Đấng qui tụ chúng ta và đang dẫn chúng ta vào Vương quốc t́nh yêu và sự sống của Ngài. Đồng thời cũng gọi mời chúng ta kiểm tra cuộc sống theo Chúa Ki-tô mỗi ngày, biết nh́n thấy Chúa Kitô nơi những người khổ đau bất hạnh để yêu thương và phục vụ, biết không ngừng hoán cải để trở nên bé nhỏ khiêm nhu, biết ăn năn sám hối và vững ḷng trông cậy hầu khi kết thúc thời gian, chúng ta sẽ được Vua Kitô nói với ta bằng chính lời khi xưa Ngài đă dành cho người kẻ trộm bên hữu : “Hôm nay con sẽ trên thiên đàng với Ta”. Amen..

 

Giuse Trương Đ́nh Hiền

 

 

BÀI GIẢNG CHÚA NHẬT HIỆN XUỐNG (2007)

 

Dẫn nhập đầu lễ :

 

            Kính thưa ông bà anh chị em,

            Nếu mầu nhiệm Thăng Thiên như là cuộc kết thúc thành công mỹ măn của công tŕnh Nhập thể-Cứu độ của Ngôi Hai Thiên Chúa, th́ hôm nay, Phụng vụ lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống lại đưa chúng ta về một giai đoạn khác của công tŕnh cứu độ : giai đoạn Chúa Thánh Thần hiện xuống để chính thức khai mạc Hội Thánh và dẫn dắt Hội Thánh trên đường lữ thứ trần gian.

            Chúng ta dâng Thánh lễ hôm nay với tâm t́nh tạ ơn Thiên Chúa v́ hồng ân Thánh Thần chúng ta đă nhận được ;  đồng thời cầu xin Chúa Thánh Thần “lại đến để canh tân bộ mặt trái đất”, “tưới gội nơi khô cạn, chữa lành mọi vết thương, lạnh lùng xin sưởi ấm, cứng cỏi uốn cho mềm…”

            Giờ đây, để xứng đáng cử hành Thánh lễ và nhận lănh dồi dào ân sủng Thánh linh, chúng ta hăy đón nhận Nước Thánh, như dấu chỉ quyền năng thanh tẩy và sức sống dâng trào của Chúa Thánh Thần

 

Giảng Lời Chúa :

            Đức thượng Phụ Metropolite Ignatios Lahaquié Syrie khi nói về mầu nhiệm Chúa Thánh Thần đă có những lời thâm thúy sau :

            “Nếu cuộc sống vắng bóng Thánh Linh

Thiên Chúa sẽ ngh́n trùng xa cách

Đức Kitô chỉ là một nhân vật quá khứ

Phúc âm chỉ là mớ giấy không hồn

Và Giáo Hội khác nào một cơ cấu phàm nhân…”

Kính thưa ông Bà anh chị em, nhận xét trên quả thật không sai. Nếu thế giới nầy đă không có “Buổi sáng ngày thứ Nhất với Ngôi Mộ trống”, và buổi chiều với sự kiện Đức Kitô Phục Sinh đă đến “thổi hơi Thần Khí trên các môn sinh của Ngài đang ưu sầu thất vọng trước cái chết của Thầy” để biến họ trở nên những con người mới ; hay đặc biệt hơn, ấn tượng hơn, nếu không có cái buổi sáng vào ngày Lễ Ngũ Tuần khi ngôi nhà Tiệc Ly bổng vang dậy cuồng phong từ trời thổi tới và những tia lửa hồng tuôn đổ trên các tông đồ để biến đổi các các tay dân chài chất phát xứ Galilê trở thành những tiến sĩ lừng danh loan báo Tin mừng th́ măi măi thế giới vẫn là thế giới buồn tênh của Chiều thứ Sáu Đồi Sọ…Vâng, nếu không có Hơi thở Thần Linh, nếu không có Lửa Hồng Thần Linh, nếu không có Đấng Bảo Trợ, nếu không có Thần Chân Lư…tất cả thế giới sẽ giống như “một cánh đồng xương khô” trong thị kiến ngày nào của sứ ngôn Êgiêkien, một thế giới của bóng đêm lầm lạc và tăm tối, của chết chóc và tuyệt vọng. Vâng chính nhờ “Hơi thở Thần linh” ngự đến, mà thân phận loài người đă được biến đổi tận căn, tội lỗi đă bị đánh bại và tử thần không c̣n quyền lực để khống chế con người ; Thánh Thần của Đấng phục sinh từ trong cơi chết cũng đă phục hồi bản tính hư hoại của con người chẳng khác nào những “bộ xương thây ma xác chết đă mang lấy thịt gân vươn h́nh hài đứng dậy trở thành đạo binh hùng dũng đầy sức sống…”

Lời Mặc khải đó đă dẫn dắt chúng ta tới ư nghĩa đầu tiên của huyền nhiệm Thánh Thần, mầu nhiệm Ngôi Ba Thiên Chúa, mầu nhiệm đă được Hội Thánh tuyên xưng trong kinh Tin Kính : Tôi tin Kính Đức Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa và là Đấng ban Sự sống

 

1. Chúa Thánh Thần Đấng ban Sự sống (Khí, Nước)

            Sự sống đó là kỳ công của chương tŕnh Sáng Tạo và cũng là cùng đích của chương tŕnh cứu độ. Chúng ta thử đọc lại những chứng từ của Thánh Kinh nói về Chúa Thánh Thần, Đấng ban sự sống :

Sách Sáng thế đă mặc khải rằng : Ngay từ thở ban sơ khi mọi sự c̣n trong cảnh hổn mang, th́ “Thần Khí Chúa đă bay là là trên mặt nước” và sự sống đă phát sinh từ độ ấy. Và c̣n hơn thế nữa, sự hiện hữu của con người đă khởi sự với bùn đất tầm thường, nhưng một khi nhận “Hơi thở thần linh” của Thiên Chúa đă trở nên “con người mang ảnh h́nh Thiên Chúa”, một Ađam bằng xương bằng thịt tuyệt vời.

Sự sống tốt lành thánh thiện ấy tưởng đâu đă tiêu tan đi với cơn Đại Hồng Thủy thanh tẩy địa cầu v́ tội lỗi ngập tràn thế gian ; thế nhưng “ḍng sông ân sủng lại tuôn tràn” khi Nước sông Giođan đă dội lên Vị Cứu Thế từ trời cao nhập thể. Vâng, kể từ phép rửa khai mạc sứ vụ cứu thế nơi ḍng sông Giođan ấy, hay chính xác hơn, kể từ khi có những ḍng “máu và nước tuôn ra từ trái tim của Đấng Bị Đóng Đinh”, kẻ nào “đến với Ngài và tin vào Ngài th́ từ nơi họ sẽ tuôn chảy một nguồn nước sống”. Người phụ nữ Samaria đă nhận được ḍng nước ấy bên bờ giếng Giacóp khi đối thoại chân t́nh với Ngài để từ hôm ấy bổng đổi đời. Và rồi hàng hàng lớp lớp những con người khác như Giakê, Lêvi, Maria mađalêna, Nicôđêmô, Người phụ nữ ngoại t́nh, người trộm bị đóng đinh một khi đến và tin vào Ngài lập tức một nguồn nước sống đă tuôn chảy dạt dào nơi trái tim họ, nơi cuộc sống họ, để từ đó quả thật như sứ ngôn Êgiêkien : họ đă được tái tạo để có “một trái tim mới một tâm hồn mới”.

   Phụng vụ lễ Chúa Thánh Thần hôm nay cũng đang tŕnh bày với chúng ta gương mặt của một Giáo Hội sống động vẹn toàn, trong đó Chúa Thánh Thần - Thần Khí của Thiên Chúa là nguồn mạch trao sự sống, trao ban tự do vui tươi, phẩm giá, thăng tiến và hy vọng. Thảo nào, Chúa Thánh Thần đă chọn chính dip lễ Ngũ Tuần để ngự xuống trên Hội Thánh buổi ban đầu, dịp lễ của Mùa gặt mới, dịp lễ của tạ ơn v́ những hoa trái đầu mùa hái về để dâng tặng Thượng Đế.

Mừng lễ Chúa Thánh Thần hôm nay đó là chúng ta cử hành mối liên hệ sâu thẳm thân t́nh giữa Thiên Chúa và con người trong giao ước mới. Qua đó, Thiên Chúa hiện diện ngay trong tâm hồn con người. Mừng lễ Chúa Thánh Thần là chúng ta cử hành bí tích Thanh tẩy, cử hành Bí tích Hoà Giải. Qua đó, chúng ta nhận được ơn tha tội và tái sinh một cuộc sống mới để trở thành một thụ tạo mới. Mừng lễ Chúa Thánh Thần là dịp để chúng tiếp tục sinh những hoa quả phúc đức của bác ái đối với anh chị em xung quanh, hoa quả của cuộc sống công b́nh chính trực, của lương tâm ngay thẳng thật thà, của trái tim từ bi nhân hậu…Đó chính là cuộc tái sinh của Thần Khi, là niềm tin hiện thực về một Thiên Chúa Ngôi Ba Đấng ban Sự Sống, là cuộc sống “hướng theo Thánh Thần để tiến bước” để kết trái đơm hoa công chính thánh thiện.

 

2. Chúa Thánh Thần Đấng thanh tẩy và đổi mới  (Lửa):

            H́nh ảnh “những lưỡi bằng lửa” đổ xuống trên các Tông Đồ dịp Lễ Ngũ Tuần như muốn liên tưởng đến cảnh tượng uy hùng khói bốc lửa dậy trên đỉnh Sinai khi Thiên Chúa kư Giao Uớc với Dân Người. Thật vậy, cuộc thần hiển uy hùng của cựu ước ngày xưa là nhằm để Giavê Thiên Chúa thanh tẩy kư ức và con tim của Dân được chọn hầu làm nên một Dân ưu tuyển, Dân của Giao Uớc…Th́ hôm nay, cuộc thanh tẩy của Thánh Thần trên Giáo Hội sơ khai để Hội Thánh măi măi trở nên một Dân Giao Uớc mới, Dân Thánh, Dân Vương Đế, Tư Tế của Thiên Chúa.

            Nếu ngày nào Đức kitô đă tuyên bố rằng : “Thầy mang lửa xuống trần gian và thầy muốn lửa ấy cháy lên…”. Điều ấy phải chăng đă ứng nghiệm vào dịp lễ Ngũ Tuần cách đây 2000 năm, khi mấy ngàn người hành hương bất ngờ được lănh nhận Phép Rửa sau khi đón nghe bài tuyên chứng của Tông Đồ Phêrô. Một cuộc “đại Thanh Tẩy” nhiệm mầu để từ đó có bao nhiêu cuộc thanh tẩy khác đă được Thánh Thần tác động không ngừng nghỉ trong lịch sử loài người. Mừng lễ Chúa Thánh Thần hôm nay phải chăng là một lần nữa để Chúa Thánh Thần thanh tẩy cuộc sống vốn đă bị hoen rĩ v́ bao nhiêu tính hư tật xấu bám riết vào cuộc sống. Lời ca Tiếp Liên hôm nay là một lời nguyện cầu đầy ư nghĩa cho cuộc thanh tẩy nội tâm nầy :

            Hỡi hào quang linh diệu

            Xin chiếu giải ánh hồng

            Vào tâm hồn tín hữu

            Cho rực sáng tinh trong…

            Hết những ǵ nhơ bẩn

            Xin rửa cho sạch trong

            Tưới gội nơi khô cạn

            Chữa lành mọi vết thương

            Cứng cỏi uốn cho mềm

            Lạnh lùng xin sưởi ấm,

            Những đường nẻo sai lầm

            Sửa sang cho ngay thẳng…

3. Chúa Thánh Thần Đấng qui tụ, hiệp nhất

            Ai cũng biết, nhân loại đă có một thời thất bại khi cùng nhau xây tháp Babel. Lư do đơn giản v́ “ngôn ngữ bất đồng”. Cũng dễ hiểu thôi, v́ một khi tội lỗi đă nhập vào trần gian th́ tất cả mọi ngôn ngữ trong thế giới của Thiên Chúa phải “cuốn gói ra đi” để nhừng chỗ cho một thứ ngôn ngữ mới : ngôn ngữ của hận thù, xâu xé, ích kỷ, tham lam, nhỏ nhen, bạo lực. Làm sao có thể xây được một tháp Babel của t́nh huynh đệ hiệp nhất, của hữu nghị khoan dung, của yêu thương ḥa giải khi con người chỉ biêt nói với nhau bằng thứ ngôn ngữ chết tiệt đó. Thế nhưng, may cho con người chúng ta, Con Thiên Chúa đă đến để dạy cho con người học lại ngôn ngữ của chính Ngài, ngôn ngữ của hiệp nhất, yêu thương, ḥa giải : “Các con hăy yêu thương nhau như Thầy đă yêu chúng con…Người ta cứ dấu nầy….Không có t́nh yêu nào lớn…”. Trước cửa nhà các Thánh Tông Đồ hôm nay, sách CVTĐ đă mô tả thật chính xác, thật sinh động về cuộc khai trương một “công tŕnh Babel mới” mà tất cả các công nhân trên công trường nầy sẽ nói và hiểu chung một ngôn ngữ : Ngôn ngữ T́nh Yêu, Ngôn Ngữ do chính Chúa Thánh Thần trao ban và dạy dỗ, ngôn ngữ của t́nh thương cứu độ.

   Thảm cảnh của một nhân loại bị phân tách và chia rẽ của tháp Babel ngày xưa giờ đây được Chúa Thánh Thần qui tụ về một mối, nói và hiểu cùng một thứ ngôn ngữ, ngôn ngữ t́nh yêu của con cái Thiên Chúa. Nói cách khác, Chúa Thánh Thần là nguyên l