|
|
LỄ GIỖ CỐ LINH MỤC PHANXICÔ XAVIÊ NGUYỄN XUÂN VĂN 10/01/2002 - 10/01/2004
|
||||||||||||||||||||||
|
Phần I Chương tŕnh
4. Giải thưởng Nguyễn Xuân Văn 6. Phát biểu của tham dự viên 7. Cám ơn của đại diện gia đ́nh Phần II Những bài được giải
|
Kính thưa…. Trong nhịp sống đức tin của người Kitô hữu và truyền thống văn hóa đạo nghĩa gia phong của Á Đông, việc tưởng nhớ đến một người thân đă khuất chẳng những là một bổn phận bắt buộc, một qui luật luân lư phải nghiêm cẩn thực thi, mà c̣n là một định chế phụng tự được thực hành một cách trân trọng và phong phú. Chính trong ư nghĩa nầy, đêm hôm nay, 09.01.2004, cộng đoàn chúng ta họp nhau để cử hành cuộc tưởng niệm cố linh mục F.X Nguyễn Xuân Văn, cựu chánh xứ Tuy Ḥa, hạt Trưởng Phú Yên nhân ngày giỗ giáp Hai Năm qua đời của Ngài. (10.01.2002 – 10.01.2004). Kỷ niệm Hai Năm qua đời theo truyền thống của nhiều nơi tại Việt Nam ta là ngày Đại Giỗ, Ngày Giỗ Mản Tang. Chính v́ thế, cuộc họp mặt hôm nay vừa nói lên tâm t́nh hiếu nghĩa của thế hệ cháu con dành cho Bậc Tiền Bối quá văng trong gia đ́nh Dân Chúa giáo xứ, giáo hạt, Giáo phận, vừa cầu nguyện cho hương hồn Cha Cố sớm siêu thăng, vừa hiệp thông trong một dấn thân tiếp nối con đường và gương sáng của Vị Chủ chăn đă một đời tận tụy v́ Nước Trời. Trong chiều kích mục vụ, cuộc tưởng niệm hôm nay dành cho Cha F.X. Nguyễn Xuân Văn c̣n là dịp để chúng ta tôn vinh Ngài như một Nhà Văn hóa lớn của Giáo Hội Việt Nam, Giáo phận Qui Nhơn qua công tŕnh “văn học-đức tin”, đại thi phẩm “SỨ ĐIỆP T̀NH THƯƠNG”, một đóng góp to lớn trong tiến tŕnh “Hội Nhập Văn Hóa” của Hội Thánh Việt Nam. Sự trân trọng nầy cần phải được nhân lên và biến thành hiện thực mục vụ, cần phải được khơi dậy và tiếp nối. Và đó, chính là mục tiêu mà giáo xứ Tuy Ḥa tổ chức giải thưởng mang tên Ngài : giải “VĂN HÓA-ĐỨC TIN NGUYỄN XUÂN VĂN”. Như vậy, nội dung cử hành đêm nay, có thể nói được là sự kết hợp giữa phụng vụ và mục vụ, giữa tưởng niệm quá khứ và hành động hiện tại, giữa ước mơ ôm ấp và dấn thân cho tương lai. Hơn nữa, câu chuyện của chúng ta đêm nay không chỉ là một “v́ sao trơ trọi cuối trời xa” (Chế Lan Viên), mà là một nỗ lực chung của toàn Hội Thánh Việt Nam đang hân hoan cất bước lên đường tiến vào cuộc hành tŕnh “NĂM THÁNH TRUYỀN GIÁO”, một chặng đường đặc biệt để cộng đoàn Dân Chúa Việt Nam dấn thân mạnh mẽ hơn, sinh động hơn vào sứ mệnh loan báo Tin Mừng, sứ mệnh Truyền Giáo, sứ mệnh chuyển tải Lời Chúa và chân lư cứu độ của Chúa Kitô cho biết bao nhiêu anh chị em chưa được diễm phúc làm một “cành nho đích thực” trong Thân Nho là Nhiệm Thể Chúa Kitô. Giờ đây, xin kính mời tất cả Quí Vị cùng chung tâm t́nh hướng về Cha F.X Nguyễn Xuân Văn và những di chúc tinh thần cao quí của Ngài để lại cho chúng ta mà có lẽ bài hát “Đây Phút Sống” với những giai điệu vừa trầm hùng, vừa sâu lắng sẽ chắp cánh cho trái tim và tâm hồn tất cả chúng ta để có thể dễ dàng đón nhận và cảm thông, chắt chiu và ghi khắc. Đây cũng là lời nguyện cầu của chúng ta xin cho linh hồn Cha F.X được “Sống phút sống gần Cha”, được cảm nhận chính cái hạnh phúc “Sống bên Chúa, gần Chúa” mà thuở sinh thời, Ngài đă ấp ủ, ước mơ khi chắp bút viết lời ca cho khúc nhạc nầy. Và bây giờ, tôi xin tuyên bố khai mạc chương tŕnh đêm tưởng niệm với bài hát “Đây phút sống” nhạc của Ánh Thiều, lời của Xuân Văn, do ca đoàn giáo xứ Tuy Hoà biểu diễn.
Linh mục Giuse Trương Đ́nh Hiền Trưởng Phú Yên, Chánh Xứ Tuy Hoà
NGÔN NGỮ TIN MỪNG TRONG DÁNG ĐỨNG VIỆT NAM Mỗi lần nghĩ về quê hương, nghĩ về đất nước, nghĩ về những giá trị truyền thống của dân tộc, tôi chợt nghe vang vọng đâu đây những lời ca trong khúc nhạc “Đất Nước” : Bài hát được nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn dệt nhạc phỏng bài thơ của thi sĩ Tạ Hữu Yên : “Đất Nước tôi thon thả giọt đàn bầu…Đất Nước tôi từ thuở c̣n nằm nôi, sáng chắn bảo giông chiều ngăn nắng lửa. Lao xao trưa hè một giọng cao dao, lao xao trưa hè một giọng ca dao…”. “Thon thả giọt đàn bầu, lao xao trưa hè một giọng ca dao”, theo tôi h́nh ảnh giản đơn đó, âm thanh dung dị đó đă gói gém tất cả cái hồn, cái chất, cái “dáng đứng Việt Nam” đầy ắp thân thương và gần gũi, sâu lắng và mượt mà. Và có lẽ đó cũng chính là một trong những cánh cửa mở ra cho những ngôn ngữ nào, văn hóa nào muốn “đi vào tâm hồn Việt Nam, muốn hội nhập văn hóa Việt Nam”. May mắn làm sao, trân trọng làm sao ! Ngay từ buổi khai sinh Giáo Hội tại Việt nam, các Vị Thừa Sai tiên khởi, các Vị Tiền Bối khai đạo của Hội thánh Việt Nam, khi giới thiệu Chúa Kitô cho Dân Việt, khi đem hạt giống Tin Mừng rắc gieo trên cánh đồng Việt Nam, đă đi trên cái nẽo “thon thả giọt đàn bầu, lao xao câu ca dao” đó; nghĩa là đă khôn khéo giới thiệu một “Tin Mừng mang dáng đứng Việt Nam”, một giáo lư gần gũi với tâm thức, ngôn từ và quan niệm tín ngưỡng của đồng bào Việt Nam, dân tộc Việt Nam, một dân tộc mà những câu ca dao ru con thường ngày đă cưu mang một nội dung tín ngưỡng tôn giáo, một tôn giáo thờ trời, một tín ngưỡng gần gũi với mạc khải Thánh Kinh, mạc khải về sự quan pḥng của Thiên Chúa : Tháng Năm gặt hái đă xong Nhờ Trời một mẫu năm nong thóc đầy Lạy trời mưa xuống Lấy nước tôi uống Lấy ruộng tôi cày Lấy đầy bát cơm, Lấy rơm đun bếp… Trăm năm dù có thế nào Dưới th́ có đất trên cao có Trời I. LỜI THIÊN CHÚA MANG “DÁNG ĐỨNG NHÂN LOẠI” Chọn lựa cách “hội nhập văn hóa” để chuyển tải Tin Mừng, để loan truyền chân lư cứu độ sao cho hiệu quả và phong phú, cách làm của Cha Ông ta đó nào đâu có phải là chuyện mới mẽ ǵ đâu ! Từ thuở xa xưa khi bộ tộc của Ít-ra-en c̣n trong thời “ăn lông ở lổ”, khi tổ phụ của dân tộc họ, cụ Áp-ra-ham c̣n lang thang trên các thảo nguyên sống đời du mục, Thiên Chúa đă áp dụng nguyên tắc “hội nhập văn hóa” mang tính “nhập thể” rồi. Có nghĩa là Lời Mạc Khải của Thiên Chúa khi đi vào thế giới đă chọn đi qua “một chiếc cửa nhân loại” là “lịch sử của dân tộc Ít-ra-en” với tất cả những yếu tố nhân văn, địa lư, xă hội, chính trị, kinh tế, pháp luật, lịch sử …của dân tộc nầy. Toàn bộ tuyệt tác Thánh Kinh Cựu và Tân ước phải chăng là “Lời mạc khải nhập thể giữa ḷng nhân loại qua lịch sử của dân tộc It-s-ra-en”, là cuộc “hội nhập văn hóa” của chính Thiên Chúa để chuyển tải cho nhân loại những chân lư của trời cao, một cuộc hội nhập thiết thân, sâu sắc như mưa, như tuyết thấm sâu trong mảnh đất trần gian : “Cũng như mưa với tuyết sa xuống từ trời không trở về trời nếu chưa thấm xuống đất, chưa làm cho đất ph́ nhiêu và đâm chồi nẩy lộc, cho kẻ gieo có hạt giống, cho người đói có bánh ăn, th́ lời Ta cũng vậy, một khi xuất phát từ miệng Ta, sẽ không trở về với Ta nếu chưa đạt kết quả, chưa thực hiện ư muốn của Ta, chưa chu toàn sứ mạng Ta giao phó.” (Is 55, 10-11) Cũng chính với nguyên tắc “hội nhập văn hóa” đó, mà chúng ta t́m thấy ngôn ngữ của Kinh Thánh Cựu ước cũng như Tân ước mang nhiều “dáng đứng” khác nhau, theo trào lưu lịch sử văn hóa xă hội của dân tộc Ít-ra-en: Từ thể văn mang tính huyền thoại, cổ tích (Sáng Thế, Tin mừng thời thơ ấu), đến anh hùng ca lịch sử (Xuất Hành, Samuen, Ma-ca-bê-ô…), pháp đ́nh lề luật, phụng tự (Thứ luật, Lêvi…), khải huyền tiên tri (Đa-ni-en, Ê-giê-ki-en, Khải huyền của Thánh Gioan…), châm ngôn huấn đạo (Khôn ngoan, Châm Ngôn, Giảng Viên..), thi ca trữ t́nh (Diễm t́nh ca), truyện ngắn t́nh yêu (Hô-sê…), ca kinh nguyện cầu (Thánh vịnh…). Và khi “Ngôi Lời thành xác phàm và cắm lều ở giữa chúng ta” (Ga 1,14), th́ Ngài cũng không làm ǵ khác hơn cái cách “sư phạm truyền thống” của Thiên Chúa. Ngài đă nói Lời Thiên Chúa bằng ngôn ngữ của dân tộc Ngài, Ngài đă vận dụng những chất liệu của cuộc sống đương thời để diễn tả các chân lư cao sâu của huyền nhiệm Nước Trời : Những h́nh ảnh chúng ta gặp thấy trong Tin Mừng như : “Người Mục Tử vác chiên trên vai”, “Cây nho sai trái”, “Tấm lưới thả xuống biển”, “Những cô trinh nữ cầm đèn đi đón tân lang”, “cây hoa huệ ngoài đồng”, “con chim se sẻ trên cành cây”… nào có xa lạ ǵ với đời thường của dân Palestine thuở ấy. Quả thật “ngôn ngữ của Thiên Chúa mang dáng đứng nhân loại là thế đó ! II. NGÔN NGỮ TIN MỪNG TRONG “DÁNG ĐỨNG VIỆT NAM” (Hay, cách “HỘI NHẬP VĂN HÓA” CỦA Giáo Hội Việt Nam) Thật không “phải đạo” chút nào nếu Hội Thánh lại đi ngược hay không chọn đi con đường mà Thiên Chúa đă chọn, mà Đức Kitô đă đi: con đường nhập thể, con đường hội nhập văn hóa”. May mắn làm sao, trên cuộc hành tŕnh sống và chuyển tải đức tin suốt hơn 2000 năm nay, Hội Thánh đă vận dụng mọi yếu tố tốt đẹp của văn hóa, văn minh con người trong việc diễn tả, sống và loan truyền chân lư đức tin. Thánh Phêrô, Thủ lănh các Tông Đồ, Giáo Hoàng đầu tiên, ngày từ những ngày đầu Hội Thánh đă được Thánh Thần linh ứng cần phải chọn lựa con đường “hội nhập đó qua thị kiến “tấm khăn lớn với đủ mọi thú vật, rắn rết…” (Cv 10, 9-16). Trong khi đó Thánh Phaolô, một vị Thánh kư, một thần học gia, một nhà truyền giáo vĩ đại đă tóm gọn nguyên tắc nầy trong mấy từ cô đọng và súc tích: “Không c̣n chuyện phân Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Kitô” (Gl 3, 28). Và thế là Hội Thánh lớn măi lên, vươn ḿnh trên mọi miền thế giới, mang Tin Mừng Chúa Kitô rắc gieo trên khắp các cánh đồng văn hóa thế giới; và cứ như thế, Tin Mừng của Chúa đă mang “dáng đứng của nhiều dân tộc, nhiều ngôn ngữ, nhiều loại h́nh văn hóa, lễ nghi, phụng tự… của mọi dân trên khắp địa cầu. Công Đồng Vatican II đă long trọng xác nhận điều đó như một nguyên lư nền tảng để h́nh thành và xây dựng Giáo Hội: “Giáo Hội, tức Dân Thiên Chúa, họp thành Nước ấy, không loại bỏ di sản trần thế của bất cứ dân tộc nào; trái lại, Giáo Hội cổ vơ và thu dụng tất cả những ǵ tốt lành nơi tài sản, nguồn lực và phong hóa của các dân tộc, và khi thu dụng, Giáo Hội tinh luyện, kiện toàn và thăng hóa chúng” (Hiến Chế Giáo Hội chương II, số 12). Trong khi đó, với Tông huấn “Ecclesia in Asia” (Giáo Hội tại Á Châu”, Đức Gioan Phaolô II đă có những giáo huấn rạch ṛi: “Từ viễn ảnh nầy, thấy rơ rằng việc Phúc Âm hóa và hội nhập văn hóa liên hệ với nhau cách tự nhiên và mật thiết. Tin mừng và việc rao giảng Tin Mừng chắc chắn không đồng hóa với văn hóa, không tùy thuộc vào nó. Nhưng Nước Thiên Chúa đến với muôn dân là những người liên kết sâu xa với một nền văn hóa, và do đó việc xây dựng Vương Quốc không tránh khỏi mượn các yếu tố từ các nền văn hóa nhân loại. V́ vậy, Đức Phaolô VI nói việc tách biệt Tin Mừng ra khỏi văn hóa là thảm trạng của thời đại chúng ta, gây ảnh hưởng sâu xa trên cả việc rao giảng Tin Mừng và nền văn hóa” (GHTAC số 21). May mắn làm sao ! Những nguyên tắc nầy, những định hướng nầy đă được Cha Ông ta áp dụng từ lâu. Thật vậy, không đợi phải có “Công đồng chung Vatican II với định hướng của Hiến Chế “Vui Mừng và Hy vọng”, không đợi đến những chỉ thị cụ thể có tính mục vụ thực tiễn của Tông huấn “Giáo Hội tại Á Châu”, ngay từ đầu, khi Tin Mừng được gieo trồng trên Đất Việt, Cha Ông ta đă biết thế nào là “Hội nhập văn hoá”, thế nào là “diễn tả Tin Mừng bằng ngôn ngữ và văn hoá bản địa”, thế nào là “tŕnh bày ngôn ngữ Tin Mừng trong dáng đứng Việt Nam”. Chúng ta thử đọc lại chứng từ của Cha Đắc Lộ, một Nhà truyền giáo vĩ đại, một nhà văn hóa lớn khi nói về công nương Catarina, môt tín hữu của giai đoạn Tin Mừng mới đi vào Đất Nước ta: “C̣n con gái Bà, công nương Catarina (cùng mang thánh dánh như mẹ) rất ham học biết và suy gẫm các mầu nhiệm của đạo, và v́ công nương rất giỏi về thi ca bản xứ, nên đă soạn bằng thơ rất hay tất cả lịch sử giáo lư, từ tạo thiên lập địa cho đến Đức Ki-tô giáng thế, cuộc đời, sự thương khó, Phục sinh và Lên trời của Người. Lại c̣n thêm ở cuối tập thơ một đoạn tường thuật việc chúng tôi tới Đàng Ngoài và công cuộc khởi sự rao giảng Tin Mừng. Tác phẩm nầy rất có ích v́ không những giáo dân tân ṭng từng ngâm nga trong nhà, nơi thành thị cũng như chốn thôn quê, mà cả nhiều lương dân, khi ca hát và thích thú với lời ca dịu dàng, th́ cũng học biết được những mầu nhiệm và chân lư đức tin” (A. De Rhodes- Histoirre du Royaume de Tunquin. Lịch sử Vương Quốc Đàng Ngoài). Nhà học giả Phạm Đ́nh Khiêm, trong bài tham luận tại cuộc TỌA ĐÀM “MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VĂN HÓA CÔNG GIÁO VIỆT NAM TỪ KHỞI THỦY ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ XX”, đă nhận xét thêm về sự kiện nầy bằng những ḍng trân trọng: “Thế là khi đức tin vừa gieo vào ḷng đất chốn kinh kỳ (1627), th́ từ một lá ngọc cành vàng đă nảy sinh thiên trường ca vang dội khắp xứ, nhờ phương tiện phổ biến là những bản in khắc gỗ mà đất Thăng Long rất sở trường. Đất ngh́n năm văn vật có khác!”. (Nh́n qua những chặng đường thi ca Công Giáo Việt Nam. Phạm Đ́nh Khiêm). - Trước hết, chúng ta nên dành riêng sự trân trọng và biết ơn đến các Thừa sai tiên phong đem Tin Mừng Đạo Chúa đến quê hương nầy, và đă vận dụng ngôn ngữ Việt Nam để chuyển tải Tin Mừng cho dân Việt chúng ta. Dấu ấn đặc biệt nhất có lẽ là tác phẩm giáo lư bằng chữ quốc ngữ đầu tiên: “PHÉP GIẢNG TÁM NGÀY” do Cha A. De Rhodes chủ biên và xuất bản năm 1651) - Kế tiếp những công tŕnh “hội nhập văn hóa” mang tính đột phá và tiên phong đó, Hội Thánh non trẻ Việt Nam tiếp tục lên đường chuyển tải Tin Mừng và chân lư cứu độ qua những công tŕnh văn hóa mà cho đến măi hôm nay chúng ta chỉ biết cúi đầu bái phục : - Giáo sĩ Majorica (Ḍng Tên) : với trên 50 tác phẩm vừa dịch, biên soạn, sáng tác bằng văn xuôi hay văn vần chữ Nôm chuyển tải giáo lư, hạnh các thánh… - Thầy Phanxicô, cựu ḥa thượng : Với tác phẩm Hán-Nôm là bản Kinh Nguyện Giỗ CẢM TẠ NIỆM TỪ, quen gọi là PHỤC DĨ CHÍ TÔN - Thầy giảng Gioan Thanh Minh: Với 15 phẩm bằng chữ Nôm ca ngợi các danh nhân, các Thánh - Linh mục Lữ –Y Đoan (1613-1678): Với tác phẩm SẤM TRUYỀN CA bằng thể thơ lục bát - Ông Raphael Đắc Lộ (1611-1687) : Với các tác phẩm thi ca: VĂN THÁNH GIUSE và VĂN ÔNG TOBIA - Tác phẩm lục bát trường thi INÊ TỬ ĐẠO VĂN với 563 câu thơ lục bát kể chuyện tử đạo của Bà Inê năm 1700 - Linh mục Philipphê Bỉnh viết nhiều tác phẩm với nhiều thể loại: trước tác, biên soạn, dịch thuật, hồi kư, thơ… đặc biệt với tác phẩm SÁCH SỔ SANG CHÉP CÁC VIỆC - Linh mục Đặng Đức Tuấn (1806-1874) : Nhiều tác phẩm Hán-Nôm : VIỆT NAM GIÁO SỬ DIỄN CA, LÂM NẠN PHỤC QUỐC HÀNH, MINH DÂN VỆ ĐẠO KHÚC, VĂN TẾ GIÁO DÂN TỬ NẠN, VĂN TẾ CÁC ĐẲNG LINH HỒN, GIÁO NẠN TRONG QUỐC BIẾN… - Thánh Phan văn Minh : Với thi phẩm “PHI NĂNG THI TẬP” - Linh mục Trần Lục (1825-1899) : Với các tác phẩm thi ca lục bát : HIẾU TỰ CA (1088 câu), NỮ TẮC THƯỜNG LỄ (1016 câu), NỊCH ÁI VONG ÂN (440 câu). - Ngoài những tác giả với tác phẩm, tư liệu mang tính chuyên môn về thần học, giáo lư, tu đức…, c̣n có nhiều loại h́nh “hội nhập văn hóa khác” trong các lănh vực khác như : chính trị (Các bản điều trần của Lm. Đặng Đức Tuấn, Nguyễn Trường Tộ (1830-1871); kiến trúc: (các nhà thờ Hảo Nho, B́nh Sa (Ninh B́nh), An Vân, Đốc Sơ, An Truyền (Huế), Trung Lao, Thôn Đông (Nam Định), Ba Làng (Thanh Hóa), đặc biệt là quần thể kiến trúc Nhà Thờ Phát Diệm (Kim Sơn, Ninh B́nh); sử học (Đại Nam quốc sử diễn ca của Trương vĩnh Kư (1837-1898), tiểu thuyết (Truyện Thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản (1887); kịch (Kịch thơ Mùa Xuân Thánh, Quần Tiên Hội của thi sĩ Đơn Phương 1991); múa (Các loại h́nh Dâng Hoa tháng Đức Mẹ); Biên khảo, nghiên cứu (Phạm Đ́nh Khiêm, Vơ Long Tê (Mai Hoa Công Chúa, Minh Đức Vương Thái Phi, Người chứng Thứ Nhất : biên khảo lịch sử của học giả Phạm Đ́nh Khiêm; riêng Vơ Long Tê có trên 50 công tŕnh nghiên cứu và sáng tác. Trong số đó phải kể các công tŕnh nghiên cứu thơ ca Hàn Mặc Tử…); báo chí (Thánh Thể báo, 1919 địa phận Phát Diệm, Thánh Giáo Tuần Báo Bắc Kỳ (1920-1923), Trung Ḥa Nhật Báo (Hà Nội, 1924-1943), nhật báo Công Giáo Đồng Thinh, 1927-1937 và tờ tuần báo Công Giáo Tiến Hành, 1936-1938, tạp chí Sacerdos indosinensis (1927, tạp chí Dức Bà Hằng Cứu Giúp (1929 của ĐP Hà Nội, tuần báo Văn Côi (Nam Định), V́ Chúa (Huế), Lời Thăm (Qui Nhơn)…; thi ca (Thơ Nôm Phước Môn tuyển tập thơ của Nguyễn Hữu Bài do Nguyễn Thức sưu tập (1959), Sảng Đ́nh thi tập của linh mục J.M. Nguyễn Văn Thích (1943). Trong lănh vực thi ca, chúng ta làm sao không nhắc đến những tên tuổi lừng danh trên thi đàn Việt Nam như : - Hàn Mặc Tử (1912-1940) với những bài thơ bất hủ như Thánh Nữ Đồng Trinh, Ra Đời, - Bàng Bá Lân (1912-1988), một Kitô hữu tân ṭng, với các bài thơ “Đêm Giáng Sinh”, “Cầu nguyện với Đức Mẹ”, “Cảm hóa. - Hồ Dzếnh (1916-1991), một Kitô hữu tân ṭng, với tuyển tập thơ “Tác Phẩm Đầu Xuân (1944) với nhiều bài thơ Công Giáo. - Phạm Đ́nh Tân (1913-1933) : với tập thơ “Lời Thiêng” - Linh mục thi sĩ Xuân Ly Băng (1936) : Với nhiều tập thơ đạo như Thơ Kinh, Hương Kinh, Hiến Chương Nước Trời, Bài Ca Thương Khó… - Lê Đ́nh Bảng (1942) : với các thi phẩm : Hành Hương, Lời tự t́nh của bến trần gian, Quỳ trước đến vàng… - Linh mục Trăng Thập Tự : Trường ca Anrê Phú Yên, Tiên Tri, Quỳ Hoa... Chúng ta c̣n phải ghi nhận nhiều đóng góp khác trong việc diễn tả Lời Chúa, Thánh Kinh bằng ngôn ngữ Việt Nam, cho dù không phải là những tác phẩm được phổ biến sâu rộng, nhưng đă góp phần không nhỏ trong tiến tŕnh Hội Nhập Văn Hóa của Giáo Hội Việt Nam. Đó là các nỗ lực của các tác giả như Tống Viết Toại (Phúc Âm diễn ca, 1956), Mai Lâm (Thánh Vịnh Toàn tập, 1958), Long Giang Tử (Phúc Âm diễn ca, 1975), Linh mục An Sơn Vị (Ngủ Kinh, Thánh Vịnh thánh ca, Tân ước), Linh mục Giuse Đinh Cao Thuấn (Trường ca cứu độ, Ca vang Lời Chúa, đường về Đất hứa), linh mục Cao Vĩnh Phan (Trường ca Dân Chúa : giáo lư bằng thơ lục bát), linh mục Lê Quang Tŕnh (Kinh thánh Khởi nguyên, Thánh Vịnh bằng thơ lục bát)…và hôm nay, chúng ta đang tưởng niệm, đang nhắc nhớ đến một con người, một linh mục và một thi sĩ đă góp phần to lớn trong tiến tŕnh Hội Nhập Văn Hóa của Hội Thánh Việt Nam : đó là Cha F.X. Nguyễn Xuân Văn với đại thi phẩm trường thiên lục bát 9764 câu thơ, thi phẩm về cuộc đời Chúa Cứu Thế qua bốn Tin Mừng : “SỨ ĐIỆP T̀NH THƯƠNG”. Chính Cha Nguyễn Xuân Văn đă bộc lộ ư định “Hội nhập” nầy khi Ngài nhắn gởi chúng ta trong lời Phi lộ của tác phẩm :
(Sứ Điệp T́nh Thương, Lời phi lộ) Với “SỨ ĐIỆP T̀NH THƯƠNG”, tác giả Nguyễn Xuân Văn có thực sự đă đạt được mục đích ấy chưa ? Xin thưa rằng đă, đang và sẽ đạt được. Bằng chứng là kể từ khi thi phẩm nầy xuất hiện trên thi đàn Việt Nam, đặc biệt, ra mắt với Dân Chúa Việt Nam, đă có không ít những bài viết, những nhận định, đánh giá, tán thưởng và trân trọng, phân tích và cảm nhận… không phải chỉ nơi các Bậc Vị Vọng thuộc hàng Giáo Phẩm Việt Nam (như Đức Cha Phêrô Nguyễn Soạn, Tông thư kư HĐGM Việt Nam, Giám Mục Qui Nhơn, viết lời giới thiệu tác phẩm, Đức Cha Giuse Vũ Duy Thống, Giám mục phụ tá TP.HCM, đặc trách mục vụ văn hóa HĐGM Việt Nam có bài nhận định “SỨ ĐIỆP T̀NH THƯƠNG TRONG CUỘC ĐỐI THOẠI GIỮA ĐỨC TIN VÀ VĂN HÓA”), mà với nhiều nhà nghiên cứu, học giả, văn-thi- nhạc- sĩ tăm tiếng (Học giả Vũ văn Kính, GS Nguyễn Khắc Dương, LM thi sĩ Xuân Ly Băng, Trăng Thập Tự, Thi sĩ Đ́nh Bảng, Bàng sĩ Nguyên, Nguyên Đạt, nhạc sĩ Hải Triều, Ánh Đăng…). Vâng, tất cả đều đồng thanh trân trọng một công tŕnh “hội nhập văn hóa” đầy sáng tạo và tích cực, thâm thúy và tài hoa. Quả thật, chúng ta có thể nôm na rằng : với Sứ Điệp T́nh Thương, Cha Nguyễn Xuân Văn đă làm cho ngôn ngữ Tin Mừng mang dáng đứng Việt Nam, một cách “Hội nhập văn hóa”tuyệt vời mà không phải ai cũng có thể làm được, hoặc làm một cách đầy thuyết phục và hiệu quả. Như vậy, để tiếp nối “con đường tơ lụa” của Hội Thánh Việt Nam trong nỗ lực hội nhập văn hóa, trong nhiệt t́nh chuyển tải Lời Chúa cho muôn dân, việc tổ chức một giải thương vừa có tính văn hóa vừa cưu mang nội dung đức tin, thiết tưởng đó là diều nên và đáng làm. Cũng chính trong khát vọng đầy tin yêu và thiện chí nầy, giáo xứ Tuy Ḥa đă quyết định tổ chức “GIẢI VĂN HÓA-ĐỨC TIN NGUYỄN XUÂN VĂN”. Cho dù đây mới chỉ là một thử nghiệm ban đầu và trong khuôn khổ giới hạn của một giáo xứ, hy vọng, công việc mục vụ nầy rồi sẽ được nâng lên “tầm cáo mới”, góp phần cùng toàn thể Giáo Hội Việt Nam lên đường làm chứng và loan báo Chúa Kitô cho anh em. Và giờ đây, với tư cách là “Trưởng Ban Tổ chức”, tôi tuyên bố khai mạc lễ trao Giải thưởng Giải Văn Hóa-Đức Tin Nguyễn Xuân Văn 2004”.
Tuy Ḥa, tháng 1 năm 2004 Linh mục Giuse Trương Đ́nh Hiền
THỂ LỆ CUỘC THI TRUYỆN NGẮN – THƠ GIẢI VĂN HÓA – ĐỨC TIN NGUYỄN XUÂN VĂN 2004 I. MỤC ĐÍCH : a/. Phát huy truyền thống “HỘI NHẬP VĂN HÓA” của Giáo Hội Việt Nam, áp dụng định hướng mục vụ của Tông Huấn “Hội Thánh tại Á Châu – Ecclesia in Asia”, thực hiện “Phương án mục vụ năm 2004” của Giáo xứ Tuy Ḥa. b/. Tri ân các nhà truyền giáo, các thế hệ tín hữu Việt Nam, các nhà văn hóa Công Giáo Việt Nam đă có công chuyển tải chân lư mặc khải bằng ngôn ngữ Việt Nam, trong đó, đặc biệt tưởng nhớ cố linh mục thi sĩ F.X. Nguyễn Xuân Văn, cựu Chánh xứ Tuy Ḥa, đă để lại đại thi phẩm “SỨ ĐIỆP T̀NH THƯƠNG”, một di sản ĐỨC TIN – VĂN HÓA quư giá trong kho tàng văn học Công Giáo Việt Nam. c/. Tạo điều kiện thuận lợi để các thanh thiếu nhi trong công đoàn giáo xứ biết vận dụng ngôn ngữ Việt Nam để diễn tả và tŕnh bày chân lư đức tin cùng cảm nghiệm sống, yêu mến và làm chứng cho Chúa Kitô qua con đường văn hóa – nghệ thuật II. TỔ CHỨC GIẢI – LOẠI H̀NH CUỘC THI : a/. Giáo xứ Tuy Ḥa, nơi mà cố linh mục thi sĩ Nguyễn Xuân Văn đă sống, làm mục vụ, sáng tác hoàn tất thi phẩm “SỨ ĐIỆP T̀NH THƯƠNG” và qua đời, tổ chức “GIẢI VĂN HÓA – ĐỨC TIN NGUYỄN XUÂN VĂN 2004” để tưởng niệm vị cựu Chánh xứ :linh mục F.X Nguyễn Xuân Văn và tác phẩm “SỨ ĐIỆP T̀NH THƯƠNG” của Ngài. b/. Giải thương lần thứ nhất (năm 2004) chỉ tập trung vào hai loại h́nh văn học : TRUYỆN NGẮN VÀ THƠ. Dự kiến những năm tiếp theo sẽ mở rộng, vươn tới nhiều thể loại hoặc bộ môn văn học nghệ thuật khác như KỊCH, ÂM NHẠC, HỘI HỌA… III. NỘI DUNG : a/. Truyện ngắn và Thơ tập chú vào 2 nội dung : CHÚA GIÊSU THÁNH THỂ VÀ TRUYỀN GIÁO. Đây cũng chính là nội dung triển khai từ định hướng mục vụ của Giáo Hội hoàn vũ (Thánh Thể) và của Giáo Hội tại Việt Nam (Truyền Giáo). b/. Tác phẩm là những cảm nghiệm và phản ảnh những tâm t́nh, suy tư, ước nguyện và đời sống chứng tá trong tương quan với Chúa Giêsu Thánh Thể và nỗ lực truyền giáo. IV. ĐỐI TƯỢNG : V́ tính cách giới hạn của lần tổ chức đầu tiên, nên đối tượng được mời tham dự cuộc thi là tất cả mọi thanh thiếu nhi thuộc giáo xứ Tuy Ḥa. Đặc biệt là thiếu nhi đang theo học các lớp giáo lư ngày Chúa Nhật. V. ĐIỀU KIỆN : a/. Mỗi tác giả được gởi 3 tác phẩm cùng thể loại (3 truyện ngắn hoặc 3 bài thơ) b/. Mỗi truyện ngắn không quá 3.000 từ (khoảng 4 trang khổ giấy A 4). Mỗi bài thơ không quá 40 câu (Không nhận truyện thơ và trường ca) c/. Các tác phẩm dự thi chưa đăng báo, in thành sách hoặc chưa phổ biến chính thức trong các sinh hoạt văn hóa khác d/. Ghi trên phiếu nhỏ : tên thánh, họ và tên thật, nơi thường trú, bút danh, tên tác phẩm dự thi, địa chỉ, số điện thoại (nếu có). Phiếu nầy gởi kèm với bài dự thi trong cùng một phong thư. VI. THỜI GIAN : - Nhận bài dự thi từ 25.11.2003 đến 30.12.2003 - Công bố kết quả và trao giải : 09.01.2004 (Dịp kỷ niệm ngày qua đời của Cha F.X Nguyễn Xuân Văn) VII. GIẢI THƯỞNG : V́ lần đầu tiên và c̣n giới hạn nhiều mặt, nên số giải thưởng và giá trị thưởng c̣n hạn chế. - Mỗi bộ môn Thơ và Truyện Ngắn đều có 3 giải thưởng : Nhất, Nh́, Ba. Giải nhất : 500.000 đồng VN cùng với bằng khen. Giải nh́ 300.000 đồng cùng với bằng khen. Giải ba : 100.000 đồng cùng với bằng khen. VIII. BAN TỔ CHỨC VÀ ĐIỀU HÀNH : 1/. Nhân sự Ban Tổ chức : - Trưởng Ban : Cha Chánh xứ Tuy Ḥa : Linh mục Giuse Trương Đ́nh Hiền - Phó ban 1 : Anh Phêrô Bùi Phương Hạc - Phó ban 2 : Anh Nguyễn Dạc (Nhà văn Nguyên Đạt) - Thư kư : Cha Giuse Vơ Tá Hoàng - Thủ quỷ : Chị Nguyễn thị Hường 2/. Công việc Ban Tổ chức : - Phát động - Xác lập tiến tŕnh thực hiện Giải. - Thành lập Ban Giám Khảo - Nhận bài - Gởi bài đến các vị giám khảo - Đức kết sơ khảo và lập danh sách các tác giả được vào ṿng chung khảo tŕnh Chánh chủ khảo. - Tổ chức chấm chung khảo - Công bố kết quả - Tổ chức lễ phát giải thưởng - Tổ chức các chương tŕnh khuyến khích, phát động, hỗ trợ Giải. IX. BAN GIÁM KHẢO VÀ CÔNG VIỆC CỦA BAN GIÁM KHẢO : Ban giám khảo (BGK) gôm một số giáo viên chuyên văn, nhà văn, nhà thơ trong và ngoài giáo xứ, các linh mục nữ tu có điều kiện thích hợp trong lănh vực văn hóa. Danh sách sẽ được thông báo trong ngày công bố kết quả và trao giải. Ban Giám khảo sẽ gồm có 2 Tiểu Ban Sơ khảo và Chung khảo. 1. Tiểu ban Sơ khảo : Bao gồm : - Cha Phêrô Nguyễn Xuân Ḥa - Cha Giuse Vơ Tá Hoàng - Anh Micae Trần Kim Đạt - Chị Maria Nguyễn thị Hường - Nữ Tu Tuyết Mai (CĐ Phaolô Tuy Ḥa) 2. Công việc của Tiểu ban Sơ Khảo : Chấm tác phẩm dự thi ṿng 1 a). Đánh giá và xếp loại tác phẩm theo 2 tiêu chuẩn : - Nội dung : Thực sự có sát với chủ đề đă được xác lập không - H́nh thức : Những đ̣i hỏi tối thiểu về : Chánh tả, ngữ pháp, bố cục… b). Toàn ban sơ khảo sẽ cùng chấm điểm và xếp loại theo 3 hạng : A, B, C. c). Một bài dự thi nào đạt được ít nhất là 3 chữ A sẽ được ghi tên vào ṿng CHUNG KHẢO. 3. Tiểu ban Chung khảo : - Cha Giuse Trương Đ́nh Hiền - Nhà văn Nguyên Đạt - Nữ tu Hồ thị Kim Nhận - Anh Bùi Phương Hạc 4. Công việc của Tiểu ban Chung khảo : Chấm tác phẩm dự thi ṿng 2 a). Ban Chung khao đánh giá mỗi tác phẩm băng điểm tối đa là 10 điểm. Mỗi bài được 4 giám khảo cùng đánh giá. b). Ban Chung khảo sẽ dựa trên kết quả điểm để quyết định trao giải thưởng. C). Ban Chung khảo sẽ có bài nhận định tổng quát về cuộc thi cũng như phần nhận định về từng tác giả. X. BỔ SUNG VÀ THAY ĐỔI THỂ LỆ : - Các qui định trong thể lệ nầy có thể c̣n được kiện toàn và thay đổi cho phù hợp với điệu kiện thực tế. - Quyết định cuối cùng sẽ được toàn ban tổ chức-điều hành giải thông qua và sự chuẩn nhận của Cha Chánh Xứ Giuse Trương Đ́nh Hiền. - Thể lệ nầy sẽ được áp dụng bắt đầu từ “Giải Văn Hóa – Đức Tin Nguyễn Xuân Văn” lần thứ nhất trong dịp Lễ Giỗ 2 Năm Cố Linh Mục Nguyễn Xuân Văn. BẢNG ĐÚC KẾT KẾT QUẢ GIẢI THƯỞNG VHĐT – NGUYỄN XUÂN VĂN 2004 1. Tổng số bài dự thi : 28 v Truyện ngắn : 4 truyện v Thơ : 19 bài v Thể loại khác : 5 bài 2. Tổng số giải thưởng : có 17 giải bao gồm : v Thơ : 1 giải nhất, 1 giải nh́ và 2 giải 3 v Truyện ngắn : 2 giải nh́ đồng hạng v Khuyến khích : 7 giải Ngoài ra, c̣n có 4 giải xuất sắc dành cho các tác giả hưởng ứng giải với hai thể loại thơ và truyện DANH SÁCH TÁC PHẨM, TÁC GIẢ DỰ THI ĐOẠT GIẢI I. THƠ
II. TRUYỆN NGẮN :
Trọng kính Đức Cha Kính thưa cha Tổng Đại Diện Kính thưa cha Hạt trưởng và quư cha, Thưa cộng đoàn dân Chúa và quư vị đến tham dự đêm tưởng niệm cố linh mục Fx.Nguyễn Xuân Văn và trao giải thưởng “VH _ ĐT” Nguyễn Xuân Văn. Trong bầu khí linh thiêng, nhưng vô cùng ấm cúng của những người con trong đại gia đ́nh thuộc Giáo Hội, và đặc biệt giáo xứ Tuy Ḥa, tất cả chúng ta cùng chung một niềm tin, một chí hướng, cùng mang một tâm t́nh của những người con hiếu thảo “uống nước nhớ nguồn” trong đêm tưởng niệm cố linh mục Phanxicô Xavie Nguyễn Xuân Văn, người cha già đáng kính, đáng yêu, đă từng là một mục tử giàu ḷng thương xót, một mục tử thi sĩ đă diễn giảng cuộc đời Chúa cứu Thế qua 9764 câu thơ kết thành một kiệt tác, đó là “Sứ Điệp T́nh Thương” – ngân vang muôn thuở, vấn vương muôn ḷng. Đại diện cho ban giám khảo trong cuộc thi truyện ngắn – thơ giải VH – ĐT Nguyễn Xuân Văn 2004, con xin được phép phát biểu một vài cảm tưởng. 1. Đây là lần đầu tiên cuộc thi được tổ chức do cha hạt trưởng khởi xướng, cùng với sự đồng t́nh của cộng đoàn dân Chúa, đánh dấu một biến cố lịch sử của giáo xứ, một niềm tự hào và hănh diện của những người con kế thừa sự nghiệp của cố linh mục Phanxicô Xavie Nguyễn Xuân Văn. 2. Cuộc thi được phát động dưới h́nh thức truyện ngắn và thơ, xoáy mạnh vào hai nội dung – Chúa Giêsu Thánh Thể và Truyền giáo – v́ là lần đầu tiên, nên số bài tham dự rất giới hạn : thơ 11 bài, truyện ngắn 4 bài, các thể loại khác 5 bài. Trong đó chỉ có 20 bài do ng̣i bút của các thanh thiếu niên trong các lớp giáo lư của giáo xứ. 3. Số bài tham dự cuộc thi đă gửi về đúng thời gian quy định với nội dung thật phong phú. Ban giám khảo đă bắt tay làm việc ngay. Chúng tôi đă chăm chú đọc từng ḍng chữ, từng lời thơ, từng câu đối thoại trong các truyện ngắn để cùng với tác giả cảm nghiệm những tâm t́nh, suy tư, ước nguyện trong tương quan với Chúa Giêsu Thánh Thể và nỗ lực truyền giáo. 4. Trong phần chấm sơ khảo, tất cả các tác phẩm đều đạt mục dích và yêu cầu của thể lệ thi, đă biết vận dụng ngôn ngữ Việt Nam để tŕnh bày chân lư đức tin, cùng cảm nghiệm sống, yêu mến và làm chứng cho Chúa Kitô qua con đường văn hóa nghệ thuật. Trong phần chấm chung khảo, chúng tôi đă cân nhắc suy nghĩ và cầu nguyện để quyết định chọn 3 giải nhất, nh́ và ba, trong các tác phẩm đều xứng đáng đoạt giải. 5. Chúng tôi cũng hết sức cảm kích và trân trọng các tác giả đă hưởng ứng nhiệt t́nh về cuộc thi VH-ĐT cho dùng không thuộc thành phần chính thức tham dự cuộc thi. Điểm nổi bật trong cuộc thi hôm nay, các tác phẩm tham dự, có một bài thơ duy nhất đă được ban giám khảo đánh giá cao của tác giả Bùi Việt Hưng qua bài thơ “sức mạnh Thánh thể”. Với tâm t́nh của một người con hằng ngày kề cận bên cha nơi bàn Tiệc Thánh, tác giả đă cảm nghiệm một cách sâu sắc nhưng thực tế “thiên chức cao cả của linh mục, qua hiến lễ tạ ơn được ghi lại trong 4 câu thơ: “Giọng hụt hơi, ông cố đọc lời truyền Đôi tay run, Ḿnh Thánh Chúa dâng cao H́nh ảnh ấy làm sao con quên được Những tháng ngày kề cân bên ông cố kính yêu”
Kính thưa Đức Cha Quư cha, quư vị và cộng đoàn dân Chúa. Trên đây là một vài cảm tưởng thô thiển của người đại diện ban giám khảo cuộc thi truyện ngắn và thơ theo chủ đề Thánh Thể và Truyền giáo. V́ là lần đầu tiên tổ chức, nên đối tượng được mời tham dự có giới hạn. Nhưng với cái nh́n về tương lại trong phương án mục vụ của năm 2004 của giáo xứ, dự kiến sẽ tiếp tục mở rộng cuộc thi với nhiều thể loại và được sự hưởng ứng tích cực của mọi thành phần dân Chúa trong giáo xứ và giáo hạt, để ước nguyện “Sứ Điệp T́nh Thương” được trao gởi đến mọi người như ḷng mong ước của cố linh mục thi sĩ Nguyễn Xuân Văn . Tôi muốn đem Lời Chúa Lời thơ T́nh Thương Ghép thành vần Đặt lên miệng các bà mẹ Để từ đó “Chảy vào tai các em bé, Đang nằm trong nôi. Hay trên cánh tay dịu hiền của các bà Như ḍng sữa ngọt Chứa đầy chất dinh dưỡng siêu phàm Để nuôi các em lớn lên Trong t́nh thương của Chúa… Nguyện xin Thiên Chúa, tác giả đích thực của Sứ Điệp T́nh Thương qua sự chuyển cầu của Mẹ Maria chúc lành cho quư cha và quư vị. Xin trân trọng kính chào và xin cám ơn quư vị. Nữ tu Franc. Hồ thị kim Nhận
PHÁT BIỂU CỦA THAM DỰ VIÊN CÁM ƠN CỦA ĐẠI DIỆN GIA Đ̀NH CHA PHANXICÔ Trọng kính Đức Cha Kính thưa cha Tổng Đại Diện Kính thưa cha Hạt trưởng, quư cha trong và ngoài giáo hạt, quư sơ, quư vị khách quư cùng toàn thể anh chị em đang hiện diện nơi đây. Một đại văn hào pháp có nói “cái chết đă san bằng tất cả, nhưng có cái chết đă trở thành bất tử”. Hôm nay chúng ta đang tưởng nhớ đến một người đă khuất, không c̣n hiện diện trên cơi dương này nữa, nhưng không phải là hết, vẫn c̣n chút ǵ đó cái “tinh anh” phảng phất của một con người đă từng sống bên cạnh chúng ta. Đó chính là cái mà chúng ta đă tôn vinh và làm cho rực sáng trong đêm nay. Cũng v́ lẽ đó mà hôm nay Đức Cha, quư cha, quư vị đă hiện diện để cùng nhau chia sẻ những cảm nhận của ḿnh, qua những lời thơ, những vũ điệu và những bài ca, tưởng nhớ đến một người cha, người mục tử thân yêu, cố linh mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Xuân Văn, người đă từng để lại rất nhiều dấu ấn khó phai trong giáo xứ và trong tâm hồn của mỗi người chúng con. Đêm hôm nay, quả là một đêm thật ấm cúng. Nếu so với những đêm hội văn hóa khác th́ không bằng, nhưng nó vẫn có những đặc sắc riêng của nó. Cái đặc sắc nhất không thể chối căi mà con nhận được trong đêm nay đó là tâm t́nh của quư vị, thay cho những lời tạ ơn mà không bút viết nào có thể tả xiết được. Quư vị đă đem hết tất cả những tài nghệ của ḿnh không phải chỉ để phô diễn như một đêm văn nghệ bỏ túi, mà là dâng những hoa quả mà quí vị lănh nhận được từ nơi người cha của ḿnh, trước hết là để ca ngợi Thiên Chúa và sau nữa tưởng nhớ đến vị cha già kính yêu và đồng thời làm cho Sứ Điệp T́nh Thương được đơm hoa kết trái. Chắc chắn trên quê trời, Cha Phanxicô đang mỉm cười khi biết được tâm t́nh hiếu thảo của con dân dành cho ngài như một phần thưởng ưu ái nhất. Theo con được biết, không phải chỉ ở giáo xứ Tuy Ḥa, mà gia đ́nh ngài tại Sài G̣n cũng như giáo xứ Ḥa Khánh thuộc giáo phận Đà Nẵng, nơi mà một thời ngài đă sống tận tụy của đời mục tử, cũng có những tâm t́nh giống như chúng ta đêm nay. Cha Phanxicô Xavie Nguyễn Xuân Văn đă đi hết đoạn đường đức tin của ḿnh ở trần gian, nhưng “Sứ Điệp T́nh Thương” của ngài vẫn c̣n đọng lại trên môi miệng mọi người, theo những lời thơ tiếp tục ngân vang trong bầu trời xanh tạo thành bản trường ca mùa “Xuân” vô tận. Kính thưa…
|