GIỚI THIỆU DANH NHÂN CÔNG GIÁO GIÁO PHẬN QUI NHƠN

________________________________________________ 

NỘI DUNG

GIỚI THIỆU TÁC GIẢ - TÁC PHẨM

 

_______________________________________________________ 

 

---------------------------------------------------------------------- 

ĐẶNG ĐỨC TUẤN

TINH HOA CÔNG GIÁO ÁI QUỐC VIỆT NAM

Vơ Ngọc Nhă và Lam Giang

GIA THẾ HỌ ĐẶNG ĐỨC

Sách Đại Nam Nhất Thống Chí ghi về Đặng Đức Siêu như sau:

Đặng Đức Siêu, người huyện Bồng Sơn, thưở nhỏ đậu hương tiến (cử nhân), bổ vào ṭa Hàn Lâm. Lúc đầu thời trung hưng, ông lẻn vào Gia Định, dâng “B́nh Tây Sơn phương lược” được lănh chức Trung dinh tham mưu, ra vào trong chốn màn trướng, thân cận với nhà vua. Sau ngày đại định, nghi lễ, chiếu biểu của nhà vua, phần lớn đều do ông soạn thảo. Làm quan đến Thượng thư bộ Lễ. Sung chức Phụ đạo cho Hoàng tử, đem đạo thánh dạy dỗ, được nhiều sự bổ ích. Lúc chết, ông được nhà vua tặng chức Tham chính. Năm Minh Mạng thứ sáu (1825) được tăng chức Thiếu sư Hiệp biện đại học sĩ. Năm Tự Đức thứ năm (1852), ông được thờ vào miếu Trung hưng công thần.

Đức hạnh, tiết tháo của ông đáng là nhân vật đệ nhứt của triều Nguyễn.

Sách Việt Nam Danh Nhân Tự điển của Nguyễn Huyền Anh lại ghi về phu nhân như sau:

Đặng Đức Siêu có bà vợ chính thất là Nguyễn Thị Ngữ, người huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, là một bậc tiết phụ hiếm có. Khi chồng theo chúa Nguyễn vào Gia Định, bà ở nhà thủ tiết nuôi con. Tư đồ Tây Sơn là Vũ Văn Dũng muốn cưới bà làm vợ, bà nhất định khước từ. Sau chồng về, bị bệnh mà chết, bà lo tống táng tận lễ rồi ở vậy cho đến già. Đời Minh Mạng sắc cho biển Tiết phụ có khắc 4 chữ “Đông quản phương tiêu”.

Về sự nghiệp văn chương, Đặng Đức Siêu là tác giả bài Văn tế Thượng sư Bá Đa Lộc, bài Văn tế Vơ Tánh, Ngô Tùng Châu, bài Hồi loan khải ca nói về chiến công thống nhất đất nước của vua Gia Long. Ngoài ra, ông c̣n soạn một quyển sử về triều Nguyễn gọi là Thiên Nam đế hệ, chép sự việc từ đời Triệu tổ Nguyễn Kim đến đời Định Vương Nguyễn Phúc Thuần.

Đặng Đức Siêu có người con là Đặng Đức Chiêm làm quan đến Hải Dương tổng đốc.

Chúng ta không biết chắc tương quan huyết thống giữa Đặng Đức Tuấn và Đặng Đức Siêu như thế nào, chỉ nghe người địa phương truyền miệng rằng Đặng Đức Siêu là ông cố của Đặng Đức Tuấn.

Năm bính dần (1806) đời Gia Long, Đặng Đức Lành, một ẩn sĩ làm Câu trưởng địa sở Gia Hựu thuộc huyện Bồng Sơn, tỉnh B́nh Định có thêm được một người con trai, đặt tên là Đặng Đức Tuấn.

Đặng Đức Tuấn có người anh là Đặng Đức Hóa và em là Đặng Đức B́nh. Cả 3 anh em đều giữ đạo Chúa và theo đuổi Nho học. Đặng Đức Tuấn tỏ ra xuất sắc hơn anh em trong gia đ́nh và bạn đồng song ở học đường. Tư chất thông minh, học đâu nhớ đó, trong các kỳ khảo hạch để chọn thí sinh, Đặng Đức Tuấn đă được các bậc danh sĩ ở địa phương công nhận là “xác hữu thực học”.

Khoa thi hương năm ất dậu (1825) ở trường thi B́nh Định, ngay từ bài kinh nghĩa ở trường nhất, Đặng Đức Tuấn đă đứng nhứt trên cả ngàn vĩ tử dự thi. Vào đến trường ba, ai cũng đinh ninh rằng ít nhất Đặng Đức Tuấn cũng đậu được tú tài, nào ngờ v́ chép đề thi thiếu mất một chữ mà phải lạc đề! Kinh nghĩa, tứ lục đều đứng nhứt, thi phú ở trường ba là món rất hợp sở trường, Đặng Đức Tuấn cũng không ngờ ḿnh lại vô duyên với trường ốc như thế.

Năm 1825 là năm có tàu Thétis vào cửa Đà Nẵng. Giáo sĩ Rogerot ở lại, đi giảng đạo các nơi. Vua Minh Mạng ra chỉ dụ cấm đạo và nghiêm lệnh cho các hải pḥng nha phải xét hỏi cẩn thận những tàu bè qua lại.

Năm 1835, nhân việc Lê Văn Khôi khởi loạn ở Nam Kỳ, quan quân hạ thành Phiên An có bắt được giáo sĩ Marchand (tục gọi là cố Du) ở trong thành, liền cho rằng cố Du đă theo Lê Văn Khôi làm loạn nên vua Minh Mạng ra chỉ dụ cấm đạo lại càng nghiêm.

Lúc bấy giờ, Đặng Đức Tuấn cũng như anh ḿnh là Đặng Đức Hóa đều ở tại quê nhà, cày ruộng và dạy học. Đặng Đức Hóa đă đậu tú tài c̣n người em trai nhỏ nhứt là Đặng Đức B́nh th́ đă qua đời v́ bệnh đậu mùa từ mấy năm trước.

Trong nước Việt thiếu cơ sở đào luyện, các tu sĩ Việt Nam phải xuất dương, du học ở Phi Năng, một đảo của Mă Lai, thuộc quyền Anh Cát Lợi. Ngoài những môn học cần thiết như chủng sinh các nước, tu sĩ Việt Nam c̣n phải học thêm Hán văn bởi v́ công cuộc truyền giáo ở Việt Nam mà thiếu Hán văn th́ rất khó thu được kết quả tốt. Học hán văn th́ các tu sĩ Việt Nam rất sẵn sàng học, ngặt v́ học với thầy Tàu, đọc theo giọng Tàu, th́ dẫu cố gắng cách mấy, các tu sĩ Việt Nam học cũng không vô. Thực là một vấn đề nan giải.

Tin này truyền về Việt Nam, hàng giáo phẩm cao cấp rất lấy làm lo v́ khó kiếm được giáo sư Hán văn có đủ năng lực và lại bằng ḷng khứ quốc. Đức cha Thể (Mgr Guéno) ḍ hỏi các giáo hữu trong địa phận Qui Nhơn – Huế, có người giới thiệu Đặng Đức Tuấn là người hay chữ, chưa lập gia đ́nh, có nhiệt tâm với giáo hội, có xuất dương mấy năm đi nữa cũng không vướng bận ǵ.

Sau khi được yết kiến Đức cha Thể và được ngài hỏi ư kiến về nhiệm vụ dạy Hán văn ở hải ngoại, Đặng Đức Tuấn hăng hái nhận lời. Liền đó, Đặng Đức Tuấn được đưa vào Gia Định, chờ tàu đi ngoại quốc. Lúc bấy giờ vào khoảng đầu đời Thiệu Trị.

Vốn có tư chất thông minh và bản tính hiếu học, sang đến Penang, một trung tâm giáo hội văn hóa Đông Tây, ngoài những th́ giờ phải giảng dạy Hán văn, Đặng Đức Tuấn để tâm nghiên cứu ngoại ngữ và học cả chữ La tinh là thứ chữ căn bản của giáo hội. Sau ba năm tự học với sự d́u dắt của anh em tu sĩ, tŕnh độ hiểu biết của Đặng Đức Tuấn về chữ La tinh, Anh ngữ, Pháp ngữ đă đạt đến mức khả quan, có thể đọc được một số sách vở thường về giáo lư. Một hôm, cha Bề trên của Đại chủng viện Phi năng bắt gặp t́nh cờ ông thầy Hán văn đương nghiên cứu văn phạm La ngữ. Vui miệng, ngài hỏi rằng:

- Con có muốn học để làm thầy cả không?

Đặng Đức Tuấn trả lời rằng đó là ước nguyện b́nh sinh song chỉ hiềm ḿnh đă lớn tuổi. Cha Bề trên hứa can thiệp với Đức cha Thể để ghi tên Đặng Đức Tuấn vào sổ chủng sinh. Sự can thiệp có kết quả mau chóng, thế là Đại Chủng viện Phi Năng thêm được một tu sĩ tinh thông văn tự Đông Tây. Sau 7 năm gắng sức học hành, Đặng Đức Tuấn đă thấu triệt các môn thần học, triết lư, lịch sử giáo hội, giáo luật, v.v… và lên đến chức thầy sáu. Công phu xuất dương trên mười năm thiệt là hữu ích, Đặng Đức Tuấn vừa giảng dạy Hán văn cho anh em tu sĩ lại vừa học hỏi cho ḿnh để trở thành người thông thái, đủ năng lực phụ tá Đức cha Thể duy tŕ mối đạo trong thời thế khó khăn.

Ngày trở về cố hương, Đặng Đức Tuấn giúp việc Đức cha Thể và sao một thời gian phục vụ, được phong chức linh mục tại ṭa Giám mục G̣ Thị. Vị linh mục tấn phong ra coi địa sở Châu Me và Trung Tín được 6 năm. Việc chiến tranh ở Đà Nẵng rồi Gia Định bộc phát dữ dội, triều đ́nh Huế nghi kỵ giáo dân, đề pḥng nội ứng bằng cách bắt giam hết những người có đạo. Nhà thờ bị phá huỷ, bổn đạo lớp bị bắt, lớp đi ẩn lánh tan tác, cha Tuấn phải lánh xa Quảng Ngăi, trở về B́nh Định rồi lại từ B́nh Định, trở ra Quảng Ngăi. Trên đường bôn tẩu hoạn nạn, nhiều lúc cha Tuấn ghé vào nhà người bên lương mà vấn đựơc tiếp đăi tử tế là v́ lúc trước cha có dạy Hán văn, được sĩ tử B́nh Định và Quảng Ngăi kính trọng.

Đầu năm nhâm tuất (1862), cha Tuấn bị bắt ở huyện Mộ Đức, giải ra tỉnh thành. Nhờ có làm sẵn 2 bản điều trần nói về phương lược b́nh Tây, người được triều đ́nh đ̣i ra Huế rồi được làm tuỳ viên trong phíai đoàn nghị ḥa Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp vào Gia Định. Sự việc quan trọng này, người đă tường thuật lại trong bài “Lâm nạn phụng quốc hành”.

Những tư tưởng minh đạo vừa tŕnh bày t́nh cảnh oan khổ của giáo dân vừa nói đến phương lược thống nhất lực lượng dân tộc bảo quốc đă làm cho vua Tự Đức và một số quan viên có tư tưởng mới như Nguyễn Tư Giản, Lâm Duy Hiệp, Phan Thanh Giản, Phan Liêm, Bùi Viện v.v.. coi người là một trang quốc sĩ. Chính Nguyễn Tư Giản (Thạch Nôn tiên sinh) cũng đă điều trần lên vua Tự Đức về sự cần thiết phải biến pháp, duy tân và trọng dụng những người Thiên Chúa giáo có học thức mới, có kiến văn mới.

Sau ḥa ước nhâm tuất (1862), cha Tuấn được về coi địa sở Tân Lộc (Quảng Ngăi) rồi sau đổi vào Ḥa Mục, sau cùng vào Chánh Khoan (địa sở Nước Nhỉ, quận Phù Mỹ, tỉnh B́nh Định). Trong thời gian này, người được vua Tự Đức đ̣i ra Huế 2 lần để hỏi ư kiến về các việc lớn quân quốc. Đó là vào những dịp vua Tự Đức sai người đi giám sát t́nh h́nh chính trị trong thiên hạ, Bùi Viện đi Nhật, Mỹ (1866), Đức Giám mục Ngô Gia Hậu cùng Nguyễn Trường Tộ đi Pháp, Nguyễn Tư Giản đi Trung Hoa (1867).

Công việc duy tân bị đa số hủ nho ngăn cản, các danh sĩ hiền tài đều ngao ngán, nhiều người đành sống cuộc đời ẩn dật, làm khuây với thơ phú, văn chương.

Không c̣n hy vọng ǵ giúp ích nứơc nhà như ông tổ Đặng Đức Siêu ngày xưa, cha Tuấn chuyên tâm vào việc hành đạo. Những lúc nhàn hạ, người cũng có giao du với các nho sĩ, ai cũng phục người là tay văn chương thuần nhă, mẫn tiệp khác thường.

Cha Tuấn c̣n có biệt danh là cha Khâm. Biệt danh này được giáo dân và thân hào đặt cho, có lẽ vào dịp người lănh mạng đi Gia Định với hai vị đại quan Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp. Dân địa phương quen gọi người là cha Năm.

Ngày 11 tháng 6 năm giáp tuất (1874), cha Tuấn qua đời ở địa sở Chánh Khoan, quận Phù Mỹ, tỉnh B́nh Định. Phần mộ c̣n tại đó trong một khoảnh đất, chu vi có xâythành độ 50 thước tây.

Xét theo quan điểm Nho gia chính thống, Đặng Đức Tuấn rất xứng đáng là một kẻ Sĩ có lư tưởng coi việc an nguy trong thiên hạ là trách nhiệm của ḿnh (Dĩ thiên hạ vi kỷ nhiệm).

Trong bài Kẻ Sĩ, Nguyễn Công Trứ có nói đến nhiệm vụ của một kẻ sĩ chân chính lúc c̣n hàn vi. Một trong những nhiệm vụ trọng yếu là vệ đạo.

Cầm chính đạo để tịch tà cự bí,

Hồi cuồng lan nhi chướng bách xuyên.

Mối đạo mà ḿnh đă cho là chính th́ ḿnh phải t́m cách phổ biến, giảng dạy cho mọi người hiểu, bác bỏ các thứ tà thuyết làm mê hoặc ḷng người. Tà thuyết lưu hành giống như làn sóng dữ tràn ngập, lôi cuốn tất cả. Kẻ sĩ đứng giữa phong ba phải ngăn luồng sóng dữ, che chở sức tấn công của nước lụt trăm sông đổ về… Đó là nhiệm vụ mà tiếng chính trị đời nay gọi là tuyên văn tác chiến của chiến sĩ văn hóa.

Đến khi có cơ hội phụng sự quốc gia th́ kẻ sĩ phải dốc hết văn thao, vơ lược, đem tất cả cái sở học của ḿnh ra giúp ích cho đời.

Trong lang miếu ra tài lương đống,

Ngoài biên thuỳ rạch mũi can tương.

Ở chốn triều đ́nh, kẻ sĩ phải có những phương lược trị nước an dân. Ngoài chốn sa trường, kẻ sĩ phải thạo việc dụng vơ để giữ yên bờ cơi. Kẻ sĩ phải quan tâm đến thời cuộc quốc gia.

Đặng Đức Tuấn đă hiến kế sách trị b́nh, mưu kế pḥng ngự giặc Pháp. Từ việc minh đạo để sử dụng tấm ḷng trung nghĩa của giáo dân đến việc kết thế ngoại giao với người Anh để chấn chỉnh lực lượng quốc pḥng, việc ǵ ông cũng có ư kiến minh bạch. Nghe hay không, dùng hay bỏ là quyền của triều đ́nh, kẻ sĩ đắc thế th́ đem hết cái sở học của ḿnh ra cống hiến cho tổ quốc. Đặng Đức Tuấn đă không được toại nguyện v́ những ư kiến b́nh Tây bảo quốc không được triều đ́nh Huế đem ra thực hành nhưng ông đă nói hết những điều ông biết để mong triều đ́nh hiểu thấu cái thế Chiến Quốc của các nước Tây phương đi t́m thuộc địa.

Có đủ văn thao, vơ lược, Đặng Đức Tuấn đă hoạt động đúng với lư tưởng “trị quốc b́nh thiên hạ” của một nhà Nho chính thống, một trang quốc sĩ hào hùng.

Triều đ́nh Huế đă phụ tấm ḷng kỳ vọng của quốc dân, gác bỏ nhiều ư kiến cứu quốc của các bậc hào kiệt. V́ thế Đặng Đức Tuấn không có được sự nghiệp tá quốc, hưng quốc như Đặng Đức Siêu, nhưng bù lại trên chiến tuyến văn hóa, ông là một chiến sĩ văn bút tiền phong của Công giáo Việt Nam, người đă biết kết hợp hai lư tưởng Thiên Chúa và Tổ Quốc, phá tan sự hiểu lầm mê chấp của những người thủ cựu, những kẻ hủ nho.

Cả cuộc đời ông là tấm gương sáng chói về tôn chỉ “độc thư cứu quốc” của người xưa vậy.

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐẶNG ĐỨC TUẤN

TINH HOA CÔNG GIÁO ÁI QUỐC VIỆT NAM

Vơ Ngọc Nhă và Lam Giang

 

Gia Thế Họ Đặng Đức (Xem trang bên)

Trên chiến tuyến văn hóa, ông là một chiến sĩ văn bút tiền phong của Công giáo Việt Nam, người đă biết kết hợp hai lư tưởng Thiên Chúa và Tổ Quốc, phá tan sự hiểu lầm mê chấp của những người thủ cựu, những kẻ hủ nho..

 

Hai thi phẩm trường thiên có liên quan đến quốc sử:  Hai tác phẩm Việt Nam Giáo Sử Diễn Ca và Lâm Nạn Phụng Quốc Hành là hai di cảo của linh mục Đặng Đức Tuấn, lưu truyền ở B́nh Định đă hơn trăm năm.

VIỆT NAM GIÁO SỬ DIỄN CA 

LÂM NẠN PHỤNG QUỐC HÀNH:

- bản thân lâm nạn v́ chỉ dụ cấm đạo.

- Phụng chỉ đến kinh đô để điều trần việc cứu quốc.

- Nam du nghị ḥa.

- Giải nạn cho giáo hữu.

 

HAI BÀI VĂN TẾ  có liên quan đến quốc sử và giáo sử

Sắc tế Đức Giám Mục Thượng sư Bá Đa Lộc.  - - Đặng Đức Siêu.

Văn Tế Đức Cha Thể.

 

TƯ TƯỞNG MINH ĐẠO BẢO QUỐC

của ĐẶNG ĐỨC TUẤN, Tinh Hoa Công Giáo Ái Quốc Việt Nam.

1. Kế hoạch đánh b́nh giặc Tây của một kẻ sĩ ở nhà tranh.

2. Minh đạo b́nh Tây sách.

3. Nguyên Đạo.

4. Minh dân vệ đạo khúc.

5. Kim thạch giải sầu ca.

6. Cách ngôn liên bích.

7. Văn tế các Đẳng.

8. Minh Tâm Linh Số

9. Thống hối đề ngâm.

10. Cải quá tự tân luận.

 

Phụ Lục

SÁT TẢ B̀NH TÂY HỊCH

GIÁO NẠN TRONG QUỐC BIẾN