Nhiều tác giả
TƯỞNG NIỆM
LINH MỤC THI SĨ
NGUYỄN XUÂN VĂN
Trung Tâm Mục Vụ Tổng Hợp Anrê Phú Yên
2006
Linh mục thi sĩ Nguyễn Xuân Văn và tác phẩm Sứ Điệp T́nh Thương đang ngày càng được nhắc đến nhiều trên các trang mạng. Hướng về lễ giỗ 5 năm của ngài, Trung Tâm Mục Vụ Tổng Hợp An Rê Phú Yên xuất bản hai quyển:
TƯỞNG NIỆM LINH MỤC THI SĨ NGUYỄN XUÂN VĂN
NGUYỄN XUÂN VĂN, NHÀ THƠ LỤC BÁT CHUẨN MỰC
Tập TƯỞNG NIỆM LINH MỤC THI SĨ NGUYỄN XUÂN VĂN ghi lại bài viết của nhiều tác giả nhân dịp lễ tang tại Làng Sông, Qui Nhơn, ngày 12-01-2002, lễ giỗ 100 ngày tại Hoa Viên Hiệp Nhất, Ḍng Chúa Cứu Thế, Sài G̣n, ngày 19-4-2002, và giỗ một năm tại Tuy Ḥa, ngày 10-01-2003.
Tập NGUYỄN XUÂN VĂN, NHÀ THƠ LỤC BÁT CHUẨN MỰC là một biên khảo rất khoa học của Đ̣an Xuân Dũng, tạo cơ sở thuận lợi cho việc nghiên cứu và phê b́nh tác phẩm Sứ Điệp T́nh Thương.
Mong rằng hai quyển này sẽ giúp quư độc giả và các nhà nghiên cứu có được một cái nh́n tổng quát về tác giả và tác phẩm.
Tuy Ḥa, ngày 06-06-2006
Linh muc TRƯƠNG Đ̀NH HIỀN
Hạt Trưởng Hạt Phú Yên
Những hồi ức về cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Xuân Văn từ sau khi ngài thụ phong linh mục, hẳn sẽ có nhiều người viết, và người ta sẽ có thể dựa vào những hồi ức ấy để dựng lại mấy chục năm cuộc đời hoạt động của ngài. C̣n về thời niên thiếu, những năm tháng ở gia đ́nh, ở tiểu chủng viện và cả ở đại chủng viện, hiện chỉ c̣n một ít người biết được. Ngoài những vị đồng niên đồng tuế, có lẽ các nghĩa tử của ngài có thể biết được nhiều điều do ngài kể lại. Tuy nhiên người đă được nghe ngài kể nhiều hơn hết có lẽ là vị linh mục trẻ ngài rất yêu thương, chung sống với ngài lâu năm nhất, từ khi c̣n là chủng sinh, là thầy giúp xứ cho đến khi làm cha phó của ngài. Đó là cha Vinh Sơn Nguyễn Văn Bản.
Phần tôi, để đóng góp một chút nhỏ, trong những lần về thăm Tuy Hoà, năm 1994 và 1995, tôi đă ghi âm một số buổi nói chuyện trong giờ cơm trưa với ngài. Cha Bản và tôi đă cùng sắp xếp để nêu những câu hỏi theo từng vấn đề, nhờ đó đă thu lượm được một số chi tiết rất đáng nhớ. Dựa vào những điều đă ghi được và kết hợp với một số nguồn khác[1], tôi xin ghi lại đây bản thảo sơ khởi về con người và cuộc đời của ngài, như cắm một số cột mốc cho người sau dễ viết.
Linh mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Xuân Văn sinh ngày 01.09.1922 tại thôn Mỹ Thành (nay là Mỹ Đức), xă Ân Tín, huyện Hoài Ân, tỉnh B́nh Định, thuộc giáo xứ Đồng Dài. Những linh mục đă phụ trách Đồng Dài mà cha Xuân Văn c̣n nhớ được là cha Quyển, cha Hoá, cha Mân. Địa sở Đồng Dài có nhiều họ nhánh. Khi cha Xuân Văn c̣n nhỏ, Đồng Dài có khoảng 4000 giáo dân, về sau, trước thế chiến thứ hai, chỉ c̣n khoảng 500 giáo dân (Tại sao?).
Thân sinh là ông Antôn Nguyễn Vị (1887 – 1952) và bà Maria Lê thị Báu (1890 – 1926), những giáo dân đạo đức và gương mẫu. Ông bà sinh được sáu người con: Nguyễn thị Đường (chết năm 17 tuổi), Isave Nguyễn Thị Đệ (chết năm 36 tuổi), Marta Nguyễn Thị Thi (chết năm 39 tuổi), Nguyễn Xuân Ba (chết lúc 2 tuổi), Phanxicô Xaviê Nguyễn Xuân Văn và Anna Nguyễn Thị Thơ (bà Pḥng).
Xuân Văn vừa lên 4 tuổi th́ mẹ được Chúa gọi về. Sống cảnh gà trống nuôi con, người cha đă can đảm lo lắng cho các con đầy đủ mọi phương diện. V́ thương con, cụ chọn một người kế thất đă quá thời sinh nở. Bà kế mẫu rất thương Xuân Văn và anh chị em. Anh chị em gọi bà kế mẫu là “Chín”. Xuân Văn bị ghẻ, mỗi lần mẹ kế xức thuốc ghẻ cho, Xuân Văn lại ṿi tiền và bà luôn chiều ư.
Cụ Vị khi nhỏ giúp việc cho cha Niên, một linh mục già tốt lành, đầy t́nh thương. Dù chỉ biết một ít chữ Nho, một ít chữ nôm, một ít chữ quốc ngữ nhưng cụ rất thích đọc sách. Cụ giáo dục con cái và xử thế rất hay. Nhà nghèo nhưng cụ rât có chí lo cho con đi học. Cụ mua sách vở cho con cái đọc: Nhất thiên tự, Tam thiên tự, Minh tâm bảo giám, Hạnh các thánh, Sấm truyền cũ…
Từ khi Xuân Văn c̣n nhỏ, cụ vẫn để Xuân Văn ngủ chung, chia sẻ tâm t́nh rất thân mật. Ngay cả khi đă là sinh viên thần học, mỗi lần về gia đ́nh, Xuân Văn vẫn nằm ngủ chung phản với cha, nghe cha tỉ tê tâm sự, kể nhiều chuyện đời và khuyên nhủ. Xuân Văn không quên được những lần đang ngủ, và có khi vẫn c̣n thức, mà được cha ôm hôn, nựng nịu. Do đó, đối với Xuân Văn, t́nh cha rất sâu đậm. Tuy nhiên, t́nh thương ấy không phải là chiều chuộng uỷ mị. T́nh thương của cụ Vị rất đặc biệt, cụ vừa nhân từ vừa có uy cho nên con cái vừa yêu mến vừa kính sợ. Cả khi đă chịu chức Tư, Xuân Văn vẫn c̣n sợ cha. Ngay cả lúc đă 50, 60 tuổi, mỗi lần nằm mơ thấy cụ thân sinh, cha Xuân Văn vẫn c̣n thấy ḷng đầy yêu mến kính sợ.
Việc giáo dục đức tin trong gia đ́nh rất nghiêm túc. Tối nào cụ Vị cũng cho cả nhà đọc kinh, lần chuỗi. Sáng nghe chuông nhà thờ, cụ gọi cả nhà dậy lần chuỗi rồi mới đi lễ (Nhà cách nhà thờ khoảng 600 mét, đường nhà quê rất tối). Thói quen lần chuỗi đă ăn sâu, cho nên hồi nhỏ, dù khi trọ học xa nhà, chỉ có một ḿnh, Xuân Văn vẫn lần chuỗi. Nếu lỡ ngủ quên, khi tỉnh dậy, lại lần tiếp.
Cụ Vị rất có kỷ cương, răn dạy nghiêm khắc. Dù khi Xuân Văn đă học thần học mà có lỡ lời, ăn nói thiếu đứng đắn, cụ cũng sửa dạy ngay.
Cuối đời, cụ Vị bị đau bao tử nặng, lại thêm bệnh gan. Lúc đó, gia đ́nh đă chuyển về giáo xứ Đồng Quả. Xuân Văn vẫn luôn cầu xin cho ḿnh được có mặt bên cạnh cha lúc cha lâm chung và đă được toại nguyện. Cụ lâm trọng bệnh vào kỳ hè 1952. Xuân Văn được săn sóc cụ hai tháng trước khi cụ qua đời.
Trên giường bệnh, cụ hôn ảnh thánh giá, rồi bảo Xuân Văn đưa tượng Đức Mẹ cho cụ hôn kính. Đưa lên môi hôn xong, cụ lắc đầu hỏi:
- Sao không đưa cho cha Ly làm phép?
Cha Ly là cha sở Đồng Quả lúc đó. Pho tượng nói đây, Xuân Văn đă mua từ ba năm trước và quên xin linh mục làm phép. Làm sao chỉ bằng sự hôn kính mà cụ có thể nhận ra có sự khác biệt giữa một pho tượng chưa làm phép với những đồ thờ đă làm phép?
Có lúc cụ chỉ về phía sau lưng và nói:
- Quỷ Satan nó đứng ŕnh đó con!
Xuân Văn an ủi cụ:
- Cha đừng sợ!
Cụ quay nh́n ảnh Đức Mẹ và nh́n măi. Cụ kêu tên cực trọng “Giêsu, Maria, Giuse” liên lỉ cho đến lúc trút hơi thở cuối cùng.
Mất mẹ lúc 4 tuổi, trong kư ức Xuân Văn, tất cả h́nh ảnh về mẹ chỉ c̣n là một phụ nữ có mái tóc dài rất đẹp. Thế nhưng ảnh hưởng của người mẹ trên Xuân Văn rất lớn. Khi mang thai Xuân Văn, bà đă hứa dâng con cho Chúa. Trước khi qua đời, dù Xuân Văn là người con trai duy nhất c̣n lại, bà vẫn dặn chồng:
- Tôi đă dâng nó cho Chúa, anh nhớ lo cho nó “đi nhà trường”.
“Mẹ tôi đă bắt cha tôi hứa điều ấy. Như vậy, điều quư báu nhất mẹ tôi để lại cho tôi là đă định cho tôi một hướng đi.”
Cụ Vị hết sức dè giữ để bảo vệ mầm ơn gọi cho con trai. Cụ không cho Xuân Văn dự đám cưới của các chị. Khi cô em lấy chồng, Xuân Văn đang giúp xứ tại Đồng Quả, chỉ cách nhà hai cây số mà cũng không được về dự. Mỗi lần Xuân Văn hỏi chuyện vợ chồng, cụ gạt liền: “Mầy đi tu mà hỏi chi chuyện đó!”. Cụ mua cho con cái sách giáo lư, sách kinh, sấm truyền cũ, và dùng chính những sách ấy để dạy cho con cái học vần và tập đọc. Trước khi vào Tiểu Chủng Viện, Xuân Văn đă đọc đi đọc lại bộ hạnh các thánh của cha Phaolô Quy, gồm 4 quyển cho cả năm, cũng như các chuyện hay trong Sấm Truyền Cũ, các chuyện thơ về thánh Alêxù, Gioan Lều, xúc động và khóc ṛng.
- Tôi thấy nó ảnh hưởng ghê, cha ạ! Tôi ước mong bây giờ các cha t́m cách viết hạnh các thánh cho thiếu nhi có mà đọc. Được đọc khi nhỏ, sẽ nhớ dai lắm!
Năm 1952, khi thân phụ qua đời, Xuân Văn đă học xong thần học, nhưng v́ thời cuộc nên chưa thụ phong linh mục. Trước khi nhắm mắt, cụ Antôn Nguyễn Vị nhắc lại cho Xuân Văn ước vọng của người mẹ và nói:
- Mẹ con đă dâng con cho Chúa và cha cũng đă cố gắng giữ như thế. Tuy nhiên làm linh mục là một ơn Chúa ban và là một gánh rất nặng. Nếu con thấy không thể trung thành th́ cứ rút lui, cha không buộc, v́ thà không làm linh mục hơn là làm linh mục bất xứng.
Xuân Văn thưa lại:
- Con vẫn ước ao dâng lễ mở tay khi cha c̣n sống, nhưng nay ư Chúa không muốn vậy. Con cố gắng trung thành đến cùng để làm linh mục, dâng lễ cầu nguyện cho cha.
Xuân Văn học abc và học viết với cụ thân sinh. Lên 9, lên 10, Xuân Văn theo học trường công tại huyện. Cậu luôn đứng nhất nhưng nghịch quá cho nên năm tiếp đó, ông cụ bắt bỏ trường công về học chữ Nho, với các sách Nhất Thiên Tự và Minh Tâm Bảo Giám. Ông thầy dạy trường công cho các em học sinh t́m, bắt quay lại trường, Xuân Văn không chịu. Thế nhưng năm học tiếp theo, 1933-1934, Xuân Văn đă trở lại trường, bỏ lớp Năm, lên lớp Bốn. Qua niên khoá sau, Xuân Văn đă vượt bạn bè và đậu Sơ Học Yếu Lược năm 1935. Xuân Văn vẫn tiếp tục ôn luyện chữ Nho và sau ba năm đă có thể đọc Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ.
Trường Huyện chỉ có tới lớp Ba (Sơ Học Yếu Lược), cho nên lên lớp Nh́ (năm học 1935-1936), Xuân Văn phải về Bồng Sơn học Cours Moyen năm I (tức là năm I của chương tŕnh lớp Nh́ thời ấy). Trường xa nhà 9 cây số nên Xuân Văn phải trọ học ở một gia đ́nh cách trường học 2 cây số. Sáng thứ hai đến nhà trọ, thứ bảy về nhà.
Năm 1936, Xuân Văn vào Tiểu Chủng Viện, được miễn lớp Tám để vào ngay lớp Bảy, cùng lớp với hai vị giám mục Qui Nhơn sau này là Đức Cha Phaolô Huỳnh Đông Các và Đức Cha Giuse Phan Xuân Hoa, với cha Phaolô Trương Đắc Cần và cha Placide Phất (OSB). Lớp có 33 học sinh. Năm đầu Xuân Văn kém tiếng Pháp hơn anh em nhưng qua năm sau đă đuổi kịp. Tuy nhiên Xuân Văn học rất tài tử. Trong năm lớp Năm, các bài kiểm tra hằng tuần của Xuân Văn rất thất thường: khi th́ đứng đầu lớp, khi lại đứng cuối lớp.
Cụ Nguyễn Vị làm nghề nông, có biết làm thơ. Tuy nhiên cụ không làm thơ mà chỉ viết văn quốc ngữ theo lối thơ. Cụ có khiếu vẽ và Xuân Văn cũng có khả năng vẽ.
Khi Xuân Văn c̣n nhỏ, Đồng Dài là một cảnh sơn thuỷ rất đẹp, với một nhánh của sông Lại Giang, hai bên cây cối um tùm. Ḍng nước có chỗ rất sâu nhưng cũng có chỗ người đi chợ lội qua được.
Vào Tiểu Chủng Viện rồi, Xuân Văn mới làm thơ. Nhờ học chữ Nho, Xuân Văn quen với người em của ông thầy đồ là một người rất giỏi thơ. Mỗi kỳ nghỉ hè, đều về gặp gỡ xướng hoạ. Tiểu Chủng Viện theo chương tŕnh giáo dục của nhà nước bảo hộ cho nên học toàn văn chương Pháp, chỉ xen một chút văn chương Việt Nam, có học Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương. Tuy nhiên, do thích thơ, Xuân Văn đă t́m ṭi đọc các tác giả thơ Việt. Cha Quá phụ trách môn Việt văn, vào mỗi thứ tư hằng tuần, và thường cho thi làm thơ phú.
Cha Xuân Văn thích nghiên cứu tử vi và tướng mệnh, thích trồng hoa và cây cảnh. Theo tử vi phương tây, sinh vào tháng 9, cha thuộc tuổi xử nữ th́ có nhiều khả năng văn chương. Thêm vào đó, sự kiện mất mẹ từ nhỏ cũng tăng thêm nguồn cảm xúc trong tâm hồn cha.
- Ngay từ nhỏ tôi đă thấy khổ đau, đă đối diện với khổ đau. Năm, sáu tuổi tôi đă biết khóc thầm v́ những chuyện không nên kể (cười!), do thấy ḿnh bị đời hắt hủi, do nỗi tủi buồn v́ mồ côi mất mẹ! Chỉ mồ côi mẹ thôi đă khổ, những người mất cả cha lẫn mẹ c̣n đau khổ tới đâu, nhất là khi ḿnh nhạy cảm!
Thi sĩ là ǵ? Theo tôi, thi sĩ là người diễn tả nỗi đau khổ của ḿnh và của người khác. Nhất là những đau khổ của ḿnh, v́ của người khác ḿnh đâu có biết!!!
Vào Đại Chủng Viện năm 1943, Xuân Văn học triết học các niên khoá 1943-1944 và 1944-1945.
Trong thời gian có cuộc “đảo chính Nhật”, Xuân Văn đang ở đại chủng viện. Học xong triết học th́ được bài sai đi Bầu Gốc giúp cha Ân. Thế nhưng đang khi đi nghỉ hè tại Đá Lết thuộc giáo xứ Ngăi Điền th́ bị sốt rét rừng, phải nằm lại nhà. Đó cũng là thời điểm diễn ra cuộc Cách Mạng Tháng Tám. Cha Huy đang làm Bề Trên Giáo Phận. Ngài cho Xuân Văn một bài sai khác, sai đi giúp giáo xứ Ô Gia thuộc Quảng Nam. do cha Thọ phụ trách. Trên đường đi Ô Gia, tới Gia Hựu, ghé nhà thầy Cần th́ bị sốt rét lại, phải quay về gia đ́nh nghỉ sáu tháng. Xuân Văn muốn gửi thư tŕnh sự việc cho cha Bề Trên Huy nhưng không có điều kiện. Cha Bề Trên tưởng rằng Xuân Văn thiếu tinh thần vâng lời, không muốn giúp cha Thọ là một cha rất khó tính. Ngài định sa thải Xuân Văn. May thay, cha Nguyễn Xuân Bàn là cha sở Đồng Dài lúc ấy đă giải thích và minh oan giúp. Cha cũng can thiệp để xin cho Xuân Văn được giúp một giáo xứ gần quê nhà là Đồng Quả (Cha Ly).
Chương tŕnh giúp xứ lẽ ra chỉ hai năm, nhưng v́ chủng viện đóng cửa, Xuân Văn đă phải giúp ba năm liền. Đang là lúc chiến tranh, không sao liên lạc được. Không được thư, Xuân Văn không biết ư Bề trên thế nào. Tuy nhiên, được sự đồng ư của cha sở, đến giữa năm 1948, Xuân Văn vẫn nhờ”tiểu đồng” gánh “xiểng” hành trang về đại chủng viện tại Làng Sông. Tại đây, Xuân Văn học thần học các niên khoá từ 1948 đến 1952. Ban giáo sư thần học lúc ấy có các cha Rohmer Triết, Tín, Hoàng, Hạnh vv… Thời gian nầy, Xuân Văn viết lời cho nhiều bài thánh ca như: Xin giúp con, Bóng con trở về, Giết-sê-ma-ni, Đây phút sống, Thánh Giuse… với bút hiệu Văn Tao (Về sau, các vị trong ban điều hành Nhạc Đoàn Lê Bảo Tịnh hoặc do không hiểu ư hoặc v́ lư do nào khác, không những đă sửa các lời ca mà c̣n sửa cả bút hiệu Văn Tao thành Văn Thao!). Đa số các bài ca do Ánh Thiều (linh mục Stanilas Hoàng Đắc Ánh, ḍng Đa Minh) hoặc Thanh B́nh (linh mục Nguyễn Thanh B́nh giáo phận Qui Nhơn) viết nhạc trước, Xuân Văn dệt lời sau. Xuân Văn cũng như hai vị đă không được học sáng tác, chỉ theo các ghi chú ở cuối sách hát mà t́m ra nguyên tắc sáng tác nhạc.
Năm 1952, Xuân Văn được sai đi giúp Gia Hựu (Cha Phận) và cũng là năm người cha thân yêu được Chúa gọi về. Lần giúp xứ thứ hai này kéo dài đến năm 1954. Trong thời gian này, Xuân Văn có làm một tập nhạc và một tập thơ. Tiếc là khi di tản đă để lại ở Gia Hựu và bị mất hết.
Năm 1954, sau Hiệp định Genève, Xuân Văn vào Nha Trang tiếp tục học thần học.
Năm 1955, thầy Văn về giúp Tiểu Chủng Viện Nha Trang, vừa làm giám thị vừa dạy học. Trong thời gian này, thầy muốn chuyển sang tu ḍng. Thầy gửi thư xin vào Thiên An nhưng Nhà Ḍng không trả lời. Thầy gửi thư cho Ḍng Chúa Cứu Thế th́ được đồng ư ngay nhưng Đức Giám Mục Giáo Phận là Đức Cha Piquet Lợi, thuộc Hội Thừa Sai Paris, cũng đồng thời là cha đỡ đầu của Xuân Văn, không chấp thuận.
Ngày 25.01.1956: Đức Cha Piquet Lợi phong chức linh mục cho thầy Xuân Văn tại nhà thờ Nha Trang.
Sau khi thụ phong, cha Xuân Văn được chỉ định làm cha phó cho cha Nguyễn Du, địa sở Hoàng Phước, và phụ trách họ Trúc Hà, cách Đà Nẵng 40 cây số. Đến Trúc Hà đầu tháng Hai năm 1956, sống chung với cha Du hơn một tháng rồi làm phó xứ biệt cư, ở tại Trúc Hà từ tháng Ba đến tháng Chín. Đây là một họ đạo nhỏ, chỉ có độ 500 giáo dân, và nghèo, cả nhà thờ và nhà xứ đều lụp xụp. Từ xưa nay không có linh mục, nay cha Xuân Văn là linh mục đầu tiên thường trú ở đó, cho nên giáo dân rất quư mến. Dù nghèo, họ vẫn lo cho cha mọi sự, từ gạo củi thường ngày cho đến rượu thịt lúc có khách.
Sinh hoạt ở đây có vẻ thật thanh b́nh. Mỗi tối thứ bảy, đặt bàn trước sân, thắp đèn măng sông, mời bà con lương dân xung quanh tới nghe giới thiệu về Đạo Chúa. Có khi cha Xuân Văn giảng, có khi mời các cha khác tới cùng giảng.
Sáu tháng ở đó, cha Xuân Văn dạy giáo lư và rửa tội được một số tân ṭng, và dạy một lớp xưng tội rước lễ lần đầu. Mỗi tối đọc kinh xong, cha ngồi kể chuyện cho giáo dân, cả già trẻ, lớn bé, cùng nghe. Giáo dân ngồi kín hè và sân nhà xứ. Sau khi cha đi, tối tối giáo dân cũng kéo nhau tới hè nhà xứ ngồi khóc suốt ba tháng liền v́ thương nhớ cha.
Từ tháng 9 năm 1956 đến tháng 9 năm 1957, cha được chỉ định làm cha phó Đà Nẵng, giúp đỡ cha sở Giuse Lê Văn Ấn, sau này là giám mục Xuân Lộc. Cũng thời gian này, cha bắt đầu gởi nhiều ơn gọi vào chủng viện cũng như tu viện.
Năm 1957 – 1962, cha được đưa về làm giáo sư kiêm quản lư Tiểu Chủng Viện Làng Sông.
Năm 1962 – 1964 là những năm công việc truyền giáo địa phận Qui Nhơn phát triển mạnh, cha được đưa về làm Cha sở Phú Hương – Quảng Nam, tiếp tục công việc của các vị tiền nhiệm, phát triển nhiều họ đạo. Rồi trận lụt Giáp Th́n, 1964, ập đến, tàn phá nhiều làng ven sông Thu Bồn, cùng lúc với chiến tranh leo thang. Cha đă quy tụ đàn chiên nhỏ bé lại tại trại tạm cư Hoà Cầm. Năm 1965, cha lập trại định cư tại băi cát Đa Phước – Đà Nẵng. Xứ đạo Phước Thành ra đời. Trên vùng đất nầy, nhiều họ đạo khác cũng thành h́nh, biến vùng Hoà Khánh thành nơi sầm uất, phát triển đạo đời. Cha cho xây dựng trường trung tiểu học Thánh Mẫu với hàng ngàn học sinh, giúp các nữ tu ḍng Mến Thánh Giá thành lập cô nhi viện Phước Thành. Tiếp theo, cha xây dựng một ngôi thánh đường kiên cố và hiện đại c̣n tồn tại cho đến ngày nay. Cha c̣n giúp Đức Cha Phêrô Maria xây dựng Đại Chủng Viện Hoà B́nh, đồng thời giúp các cha ḍng Salêdiêng Don Bosco xây dựng trường kỹ thuật nhằm giúp đỡ thanh thiến niên. Tiếc thay, các công tŕnh đó, Giáo Hội không c̣n quản lư được nữa.
Sau năm1975, cha muốn về Qui Nhơn giúp đỡ Giáo phận Mẹ, xây dựng lại các xứ đạo từ đống tro tàn của chiến tranh. Sau khi cha Phaolô Trương Đắc Cần rời Mằng Lăng ra Sông Cầu làm cha sở, Đức cha Phaolô Huỳnh Đông Các, người bạn đồng lớp, yêu cầu cha về làm Cha sở Mằng Lăng – Phú Yên. Tại quê hương thầy giảng tử đạo tiên khởi Anrê Phú Yên, cha đă dày công đào tạo các chủng sinh, và nhiều linh mục phát xuất từ cái nôi thân yêu này.
Năm 1986, sau khi cha Hạt trưởng Phú Yên, Martinô Nguyễn Trọng Huấn qua đời, Đức cha Phaolô cho cha về coi sóc Giáo xứ Tuy Hoà, kiêm hạt trưởng Phú Yên.
Hơn mười lăm năm xây dựng giáo xứ, 1986 – 2002, bên cạnh việc xây dựng toà lâu đài thiêng liêng nơi ḷng giáo dân, cha c̣n có những công tŕnh hữu h́nh khác như hang đá Đức Mẹ, Nghĩa đường, tượng đài Thánh Tâm, tượng đài thánh Giuse. Đặc biệt, năm 1995, cha đă xây dựng một ngôi thánh đường khang trang, cùng với nhà xứ và nhà giáo lư gồm 3 pḥng tại Giáo họ Hóc Gáo, thuộc Giáo xứ Tuy Hoà. Vào cuối đời, mặc dầu đau nặng, cha cũng kiên quyết hoàn thành công tŕnh nhà giáo lư, gồm 2 tầng 14 pḥng.
Ngày lễ thánh Phanxicô Xaviê năm 2001, cha đă dâng lễ tạ ơn bát tuần với cộng đoàn giáo dân Tuy Hoà như một lời từ biệt. Sau lễ Giáng Sinh, cơn bệnh đột ngột tăng nhanh. Cha đau đớn rất nhiều. Và rồi việc ǵ phải đến đă đến. Khi tiếng chuông 4 giờ 30 sáng thứ năm ngày 10.01.2002, vừa rung lên cũng là tiếng chuông báo tin giờ hấp hối của cha. Sau nửa giờ trăn trở, hơi thở yếu dần, cha đă được Chúa gọi về lúc 5 giờ. Vây quanh cha trong giờ sau hết là những linh mục, giáo dân và những người thân yêu.
Vào lúc 9 giờ cùng ngày, Đức cha Phêrô Nguyễn Soạn – trên đường vào Sài G̣n, để đi Rôma viếng mồ Thánh Phêrô- đă có mặt tại Tuy Hoà. Đức Cha đă cùng với các linh mục và giáo dân Tuy Hoà đưa xác cha vào nhà thờ và cử hành thánh lễ đồng tế, cầu nguyện cho một vị mục tử suốt đời tận tuỵ v́ đoàn chiên.
Sáng 11 tháng 01 năm 2002, thi hài cha được khâm liệm và ngày 12, được đưa về an táng tại nghĩa trang dành cho các linh mục tại Làng Sông, Tuy Phước, B́nh Định.
Dưới đây là phần cha Xuân Văn trả lời những câu hỏi về tâm hồn người tận hiến, do cha Bản và tôi nêu ra.
- Cha nhớ ǵ về thời chủng sinh của cha?
- Kỳ nghỉ anh em chúng tôi thường đến nhà nhau chơi. Phải thân nhau từ tiểu chủng viện mới quư. Nếu thiếu tiểu chủng viện, chỉ có đại chủng viện, anh em sống với nhau theo kiểu người lớn, sẽ thiếu thân mật. Khi làm chủng sinh, phải gắng sao cho có tấm ḷng chung, có ǵ cũng chia sẻ cho nhau, đừng ích kỷ, th́ khi làm linh mục sẽ thương nhau. Nhờ t́nh bạn khi c̣n là chủng sinh, khi làm linh mục rồi chúng tôi vẫn c̣n rủ nhau đi chơi. Cha phải biết là nhóm anh em cùng lớp của chúng tôi chơi với nhau rất thân mật, vui nhộn và linh động, và nhờ đó mà rất nhất trí. Tháng hè, anh em chúng tôi rủ nhau đi chơi, không có ǵ là riêng tư. Vui mà rất lành mạnh, cho nên lôi cuốn cả lớp dưới.
- Có phải đó là đặc điểm của anh em Qui Nhơn?
- Đúng. Qui Nhơn cũng học giỏi nữa. Khi học chung 7 giáo phận ở Sài G̣n, về học vấn anh em Qui Nhơn không thua ai, để khỏi nói là hơn.. Nhưng tôi thấy rơ sự đào tạo của Qui Nhơn ḿnh c̣n phiến diện.
- Ư cha muốn nói thế nào?
- Cần phải có một ban giáo sư nhất trí và là một ban giáo sư thánh. Muốn có một hàng linh mục thánh, chủng viện cần có một ban giáo sư thánh. Giỏi thôi, không đủ!
- Nếu như ngày nay lại có Tiểu Chủng Viện, ḿnh phải làm ǵ?
- Ngày nay, nếu được lập lại Trường Nhỏ, ḿnh phải đào tạo khác. Phải nhấn mạnh gương sống của các bạn. Những tấm gương sống động nhất cho tôi vẫn là gương của anh em. Có những anh em rất thánh thiện, như cha Châu hay thầy Vang, anh của Đức Cha. Ông này chết khi mới thầy Tư, rất thánh thiện. Cha Placide cùng lớp với tôi cũng rất kỷ luật và thánh thiện, khi nào cũng được điểm tối đa về đạo đức và hạnh kiểm.
- Lúc năy cha nói về t́nh bạn giữa anh em linh mục. C̣n với những anh em đă thôi tu?
- Sự liên kết giữa những anh em đă làm linh mục và các cựu chủng sinh sẽ rất có lợi cho sinh hoạt Hội Thánh. Về điểm này, chủng viện Kontum rất tốt. Ban giáo sư Kontum đối xử với chủng sinh thân mật hơn ở Tiểu Chủng Viện Làng Sông. Những anh em ra rồi, các cha vẫn theo dơi bằng thư từ để nâng đỡ, hướng dẫn. Ở Làng Sông không có như vậy, cho nên những người v́ hoàn cảnh không tiếp tục được, dễ có mặc cảm bị đuổi. Phải làm sao để, khi hồi tục, anh em sẽ quan niệm rằng thời gian ở chủng viện là để chuẩn bị cho cuộc sống tông đồ giữa đời. Nên tổ chức liên kết anh em cựu chủng sinh theo từng lớp, v́ họ có sẵn t́nh thân mật rồi.
- Trở lại sự thánh thiện. Xin cha cho biết kinh nghiệm bản thân cha?
- Khi c̣n ở Tiểu Chủng Viện, đời sống thiêng liêng của tôi cũng c̣n có vẻ chơi giỡn, nhưng sau khi đi giúp về, mỗi lần tĩnh tâm chịu chức nhỏ thật sốt sắng.
- Về việc tĩnh tâm?
- Tĩnh tâm th́ chỉ nên quyết định một điều căn bản rồi các cái khác sẽ theo sau. Cứ tấn công vào một nết xấu, ghi chú từng ngày, sẽ rất tiến bộ. Cha nhớ chuyện ông hiền triết với hũ đậu đen và đậu trắng chớ? Câu chuyện ấy rất ích lợi cho tôi. Khi giảng tĩnh tâm chuẩn bị chịu chức, đừng nhắm tới hướng mục vụ hay kết quả của đời linh mục nhưng cần nhắm tới những đức tính tốt cho một linh mục. Nhất là phải thánh thiện. Ra làm việc, những điều đă học chẳng áp dụng mấy nhưng sự thánh thiện th́ cần liên lỉ.
- Trước đó, không ai hướng dẫn cha về điều đó sao?
- Phải nói thật, trước đây chúng tôi không có được những bề trên thật cởi mở để chia sẻ kinh nghiệm. Hầu như là bị thả nổi, rồi ḿnh liều mà bước tới.
- Khi chịu chức linh mục, cha có quyết định ǵ ?
- Tôi quyết tâm không kén chọn nhiệm sở, sẵn sàng đến bất cứ nơi nào. Tôi cũng chẳng theo đuổi một ư nghĩ cao xa trổi vượt nào, chỉ có một ư nghĩ thường thôi: Ḿnh ít khả năng, được ngần nào th́ phục vụ Chúa ngần ấy. Tôi cũng muốn mọi sự đều giản dị, đừng có ǵ sang trọng. Tôi cũng quyết tâm vâng phục, sự vâng phục giúp ḿnh dễ giữ đức khiết tịnh.
- Xin cha nói thêm kinh nghiệm về đức khiết tịnh?
- Để giữ đức khiết tịnh, phải có việc làm luôn, và phải có những giải trí lành mạnh, phải ham đọc sách. Làm việc. Ḿnh đă muốn làm việc th́ chẳng khi nào có thể ở không.
- Nhưng nếu bị tấn công?
- Người ta bảo tôi có số đào hoa. Hồi c̣n làm thầy, có lúc tôi bị bốn, năm người săn đuổi. Có người rất ĺ lợm. Ngay giữa thời gian chiến tranh, tương lai mịt mờ, viễn tượng thụ phong linh mục quá xa vời. Thế nhưng Chúa đă ban cho tôi một ư chí mạnh để vượt qua. Thêm vào đó, nhờ nỗi khổ bị mất mẹ, và một phẫn cũng do hoàn cảnh xă hội quá khắc nghiệt khiến ḿnh không tha thiết ǵ với hạnh phúc gia đ́nh.
- Tâm t́nh của cha khi dâng lễ?
- Được dâng lễ, đó là điều khao khát nhất của tôi. Khi c̣n làm thầy, tôi đă thưa với Chúa: Xin cho con dâng lễ một lần rồi chết cũng được. Khi cha tôi chết, tôi đi xin lễ, có những linh mục thoái thác có vẻ không muốn làm, cho nên tôi ước ao được dâng lễ để cầu nguyện cho cha tôi.
- Trong đời linh mục, điều ǵ thường làm cha nản ḷng?
- Tôi loàng xoàng nên không có ǵ để nản ḷng.
- Trong việc mục vụ, cái ǵ khổ nhất?
- Dọn bài giảng! Tôi cứ muốn viết ra giấy trước mà không được. Không đủ kiên nhẫn! Mỗi năm chỉ viết được đôi lần. Cha Nguyễn Du là một trong số ít người luôn viết sẵn bài giảng. Ngài siêng viết bài giảng nên giảng hay.
- Cha có điều ǵ phải ân hận không?
- Về đây, tôi vẫn có một điều ân hận day dứt là ít đi thăm giáo dân. Có kẻ liệt là tôi đi ngay nhưng ngoài ra không đi thăm thường xuyên. Cũng v́ thời cuộc, đi thăm sợ bị xuyên tạc, hiểu lầm, khiến ḿnh dè dặt măi thành thói quen. Tôi biết, siêng năng thăm giáo dân th́ rất ích lợi nhưng ḿnh chưa nhiệt t́nh đủ.
Cha chia sẻ điều này với tôi năm 1994. Giáo dân Tuy Hoà nói với tôi rằng, dù ít đi thăm, cha nắm rất vững t́nh h́nh các gia đ́nh. Về sau, để buộc ḿnh phải đi thăm hết các gia đ́nh một lượt, cha đưa ra chương tŕnh đến chụp h́nh từng gia đ́nh. Cuối năm 2001, tất cả các gia đ́nh đều đă được chụp h́nh, trưng bày ở pḥng khách nhà xứ. Giáo dân cũng ghi nhận rằng lúc nào cha cũng sẵn sàng giải tội, và khi giải tội, cha khuyên bảo rất tận t́nh.
- Cha c̣n hút thuốc không?
- Tôi bỏ từ năm 1986.
- Cái nh́n hiện nay của cha về việc tông đồ?
- Tôi ước mong làm tông đồ cho giới trí thức, giúp họ đi theo hướng Tin Mừng, nhất là đào tạo cho họ có sự thánh thiện. Thiếu sự thánh thiện th́ có trí thức mấy cũng chẳng làm ǵ. Cái nết đánh chết cái đẹp.
Theo cha, muốn thực sự hội nhập văn hoá, phải đem Tin Mừng cho giới trí thức.
- Hồi xưa, người ta truyền giáo cho các trưởng tộc, cho những người có thế lực. Ngày nay, phải truyền giáo cho giới trí thức, cho văn nghệ sĩ.
Quyển Sứ Điệp T́nh Thương khởi viết từ năm 1977. Ngay từ cuối năm 1975, Đức Cha Phaolô Huỳnh Đông Các, giám mục Qui Nhơn, đă đề nghị cha Xuân Văn viết một bản cuộc đời Chúa Cứu Thế bằng văn vần cho trẻ em học. Cha chưa cầm bút th́ một chuyến tham quan trong năm 1976 đă khiến cha xin Đức Cha cho thực hiện theo một hướng khác:
- Thưa Đức Cha, để cho trẻ em dùng th́ đă có bản song thất lục bát của Đức Cha Bắc Ninh. Nay xin để con viết cho người lớn.
Cảm hứng đă đến khi cha theo đoàn tham quan của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam đi thăm nhà bảo tàng Chủ Tịch Hồ Chí Minh. Cô hướng dẫn viên đă thuyết minh với một giọng đầy truyền cảm khiến cho có người ứa lệ. Chứng kiến cảnh ấy, cha thầm nguyện:
- Phải rồi, Chúa ơi, con cũng phải viết thế nào để người ta đọc mà khóc v́ yêu mến Chúa.
Về sau, viết xong rồi, cha nhiều lần nói với tôi:
- Tiếc là ḿnh c̣n thiếu ḷng mến, cho nên chưa diễn tả được thật hay.… Cũng có những câu hay nhưng chưa diễn tả được sức mạnh của lời Chúa.
Tập thơ hoàn thành được cũng là nhờ hoàn cảnh. Sau kịch bản “Tử Thần” viết trong thời gian làm quản lư ở Tiểu Chủng Viện Làng Sông, có thể nói là cha đă buông bút. Không phải v́ cha lười nhưng v́ bao nhiêu công việc dồn dập của một linh mục coi xứ cản trở. Măi đến khi về Mằng Lăng mới thoát khỏi chuyện xây cất cơ sở, tổ chức hội đoàn và mới có được sự cô tịch tĩnh lặng. Và đó là lúc Đức Giám Mục bảo cha cầm bút lại.
- Không phải bản chất tôi lười nhưng có lẽ chứng đau gan khiến ḿnh uể oải, nặng nề, ngại viết. Tuy nhiên, việc ǵ đă bắt đầu, tôi đều cố gắng làm xong, không bao giờ chịu bỏ dở. Với cái moindre effort, với chút cố gắng cần thiết th́ việc ǵ rồi cũng xong. Tập này tôi đă bắt đầu th́ cũng làm xong cho bằng được. Dù vậy, có những thời gian dường như là đêm tối, cả năm không viết được câu nào.
Đầu năm 2001, một số anh em quan tâm đến văn học nghệ thuật công giáo gặp nhau ở Sài G̣n. Để khai thông những khó khăn và bế tắc, cha Xuân Văn đă xướng xuất dự án “Giải Thưởng Văn Học Nghệ Thuật Anrê Phú Yên” và t́nh nguyện đảm đương việc thực hiện. Đức Giám Mục Qui Nhơn đă tán thành đề xuất của cha và có hướng đảm nhận sáng kiến ấy như một công cuộc của giáo phận. Thế nhưng rồi những điều kiện cụ thể đă không cho phép thực hiện dự án.
Cũng đầu năm 2001, đang lúc nằm điều trị ở Sài G̣n, cha bảo thầy Hoà kiếm cho cha quyển vở và cây bút. Cha muốn viết một trường thiên ca tụng Mẹ Maria theo các trang Kinh thánh. Tháng bảy, tôi về thăm, cha bảo tôi t́m cho cha quyển “Đoạn Trường Vô Thanh” của Phạm Thiên Thư để tham khảo phong cách lục bát của nhà thơ này. Lần cuối cùng tôi được trao đổi với ngài là đầu tháng 8-2001, khi ngài gọi điện cám ơn đă nhận được quyển sách. Qua đó, người cha và người thầy của tôi, ở tuổi 80, đang thiết tha mong muốn đổi mới và hoàn thiện lời thơ của ḿnh. Cơn bệnh đă không cho phép cha hoàn thành dự tính. Cha chỉ mới nháp được hơn một ngàn câu, tới chỗ Đức Mẹ gặp được người con mười hai tuổi trong Đền Thờ.
Bây giờ th́ bài thơ được tiếp nối, không phải ở trần gian nhưng trên thiên quốc.
Sài G̣n, 18-01-2002
Bài giảng Thánh lễ An Táng tại Làng Sông.12.01.2002
Kính thưa cha Tổng Đại Diện,
Kính thưa quí Cha Hạt Trưởng,
Kính thưa qúi Cha trong và ngoài giáo phận,
Kính thưa quí Cụ Sáu, quí tu sĩ nam nữ, Chủng sinh và anh chị em thân mến,
Chúng ta dâng lễ cầu nguyện và tiễn đưa cha PHANXICÔ đi gặp Chúa và về với Chúa. Cũng như ngài, mỗi chúng ta đều được mời gọi đi con đương đó trong cách riêng của ḿnh. Bài học và tinh thần đi gặp Chúa của lễ Ba Vua vừa rồi c̣n đó và lắng đọng trong tâm tư chúng ta: lộ tŕnh của ba nhà Đạo Sĩ là từ quê nhà Đông phương sang Jérusalem đến Bélem. Hành trang là nhân vị của bậc hiền triết chiêm tinh với ba lễ vật cao quí và ư nghĩa. Dụng cụ là quyết tâm thiện chí, tri thức văn hoá dân tộc. Phương thức là nắm bắt và vận dụng Kinh Thánh Lời Chúa với ánh sao soi chiếu hướng lộ. Đích điểm là gặp thấy Hài Nhi và Maria Mẹ Người.
Đời người, thưa anh chị em, dù là giáo sĩ, tu sĩ hay giáo dân, ngắn hoặc dài, cũng chỉ là người lữ hành dệt thành một chuỗi sinh và động, ráp nối nên một con đường về với Chúa gặp Chúa. Sinh kư tử qui, sống là lên đường, đường hồi hương. Chức phận và nhiệm vụ là bạn đồng hành, là hành trang, là phương tiện. Đi đường nhờ ánh sao của đức tin, lương thực là Kinh Thánh Lời Chúa – Hơn 80 năm của cha PHANXICÔ (nay đă về với Chúa) cũng như đ̣i sống của chúng ta (sẽ gặp Chúa) cũng chỉ độc đạo theo mẫu h́nh đó. Cha PHANXICÔ đă bỏ cái phải bỏ để thượng lộ về đích. Và đây là lộ tŕnh của ngài: Sinh 1.9.22 tại Mỹ Đức, An Tín, Hoài An( giáo xứ Đồng Dài). Năm 36-43 học ở TCV Làng Sông – 43-45 học ở ĐCV Qui Nhơn – 45-48 giúp xứ ở Đồng Quả – 48-52 học ở ĐCV Làng Sông – 52-54 giúp xứ ở Gia Hựu – 54-56 học thần học ở Nha Trang và thụ phong linh mục năm 1956, rồi làm mục vụ ở Trúc Hà. 56-57 phó xứ Đà Nẵng, 57-62 giáo sư TCV Làng Sông. Năm 62-64 cha sở Phú Hương – 65-75 cha sở Hoà Khánh. Năm 75-86 cha sở Mằng Lăng. Và đến năm 86 cha sở Tuy Hoà kiêm Hạt Trưởng Phú Yên.
Thưa anh chị em, với không gian rộng và thời gian dài, có chức vụ và có trách nhiệm, 80 tuổi đời, 46 năm tuổi thánh, cha PHANXICÔ đă vận dụng đời ḿnh đó đi t́m và gặp Chúa theo cách thức của Ba Vua. Giờ đây chúng ta chỉ c̣n dám xin Chúa nhận diện trang điểm và đưa ngài vào Thiên quốc.
Thưa cha PHANXICÔ kính mến, cha vừa bươc qua ngưỡng cữa Maria duce mà cha đă đặt trước cổng tổ đường Làng Sông nầy để gặp chúng con lần cuối. Đạo đức nhân bản làm cho chúng con thương nhớ v́ vĩnh biệt cha, nhưng sức sống của niềm tin lại ban cho chúng con an ủi và vui mừng, bởi lẽ cha được về gặp Chúa. V́ dù ta sống hay chết đều thuôc về Chúa, nói nhhư thánh Phaolô – C̣n nhớ cách đây 50 năm , tại Chủng Viện nầy, con tim cha đă thao thức thốt lên mấy vần thơ để trở thành ca từ cho nhạc sĩ Ánh Thiều dệt nên khúc nhạc “Bóng con trở về”. Giờ đây nó không phải là nỗi xao xuyến mà đă hiện thực hoá ước mơ. Không phải “ Mẹ ơi, muôn nồng thắm muôn sắc hương, ghi lại trong ḷng con muôn vết thương”,mà “ ghi lại trong ḷng con muôn ư thương” của sắc nước hương trời. Và thực sự, thưa cha PHANXICÔ, từ phút nầy, với cha, không c̣n công bố “ Sứ Điệp T́nh Thương” nữa, mà hưởng trọn hương vị T́nh thương.
Xin vĩnh biệt cha, xin cha nhớ đến Đức Cha Phêrô, Cha Tổng Đại Diện, anh em Linh mục chúng con và giáo phận thân yêu bên Chúa.
Trọng kính Cha Tổng đại diện.
Kính thưa quư Cha.
Kính thưa quư tu sĩ nam nữ
Kính thưa quư quan khách
Kính thưa quư ông bà và anh chị em hiện diện nơi đây.
Cộng đoàn giáo xứ Tuy ḥa chúng con xin Cha Tổng đại diện, quư Cha, quư tu sĩ, quư quan khách, quư ông bà, anh chị em cho phép chúng con ngơ đôi lời từ biệt Cha Sở chúng con.
Kính thưa Cha Sở kính mến!
Đứng trước linh cửu của Cha, chúng con quá đau buồn. V́ chỉ c̣n giây lát nữa chúng con không được gần gũi Cha và nhất là không bao giờ gặp gỡ Cha ở trần gian này
Biết rằng sinh lăo bệnh tử, nhưng t́nh cảm tự nhiên của con người trần thế không làm sao ngăn được ḍng lệ đau buồn, nhớ nhung, thương tiếc người Cha tinh thần sống với chúng con 16 năm qua đă khắc sâu vào kư ức của mỗi người chúng con bằng những nụ cười đầy thân thương tŕu mến, những lời khuyên chân thành khả ái, những khắc khoải lo toan cho chúng con từ vật chất đến tinh thần.
Thoáng nh́n ai cũng có thể nghĩ rằng: Cha đến quản xứ Tuy ḥa là an vị tuổi già. V́ những vị tiền nhiệm của Cha đă xây dựng và giao lại cho Cha một cơ sở giáo đường uy nghi đồ sộ, nhà xứ, trường học chẳng thiếu vật chi.
Đúng vậy, nhưng không phải vậy, Cha đến quản xứ Tuy ḥa trong bao nỗi lo âu và trăn trở mọi bề. V́ thời gian và không gian không bao giờ trùng lập
Những vị tiền nhiệm của Cha đă sống trong thời điểm đầy thuận lợi trong mọi t́nh huống. Phần Cha, 16 năm qua sống tại giáo xứ Tuy ḥa không được may mắn như các vị tiền nhiệm của Cha, Cha phải luôn thao thức, ưu tư làm thế nào để hướng dẫn con chiên của Cha sống tốt đạo đẹp đời, những người nghèo khó Cha lo cho họ có cơm ăn áo mặc, người già yếu, cô đơn bệnh tật, Cha đem về nhà xứ nuôi dưỡng họ đến măn đời.
Tuy nhiên, Cha chẳng có hạt lúa dính tay, phải mua gạo từng ngày, tiền ăn của Cha là tiền căo những ngày Chúa nhật. Có lúc quá thiếu thốn, Soeur giúp việc cho Cha phải muối từng con mắm, bó từng cái chổi dừa đem đi bán để thêm tiền mua gạo.
Cha luôn nhắc nhở người giúp việc phải tiết kiệm, món ăn bữa trưa Cha nhín lại buổi chiều. Có điều nghịch lư là Cha không bao giờ tiết kiệm với người nghèo khó, có đồng nào Cha trao cho họ đồng nấy và ḷng hiếu khách của Cha cũng là điều đáng trân trọng
Hoàn cảnh kinh tế giáo xứ luôn khó khăn, tuổi già sức yếu nhưng Cha rất có tài năng xoay sở để xây dựng thêm những kỳ quan biểu tượng như:
_ Nhà thờ Hóc gáo
_ Nhà nghĩa đường
_ Hang đá Đức Mẹ
_ Tượng đài Thánh Giuse
_ Tượng đài Trái tim Chúa Giêsu
Để tăng thêm phần trang trọng trong việc phụng thờ, mặt khác kích thích tinh thần giáo dân thêm phần đạo đức và yêu mến Thiên Chúa nhiều hơn.
Đồng thời lưu lại cho đời sau những tác phẩm văn hóa nghệ thuật tôn giáo, thật là một kỳ công quá lớn lao. Chúng con hết sức biết ơn Cha.
16 năm qua, Cha đă rảo bước khắp nẻo đường giáo xứ, thăm từng gia đ́nh giáo dân để tận mắt nh́n thấy cuộc sống của mỗi người chúng con và cùng chụp ảnh lưu niệm, không phân biệt kẻ sang, người hèn, kẻ lành người dữ.
Quả thật, Cha là một Linh mục rất hoàn hảo, phục vụ Chúa, phục vụ giáo hội, nhất là phục vụ giáo dân đến sức kiệt tàn hơi.
Để chứng minh điều này, với tuổi đời 80, lại lâm trọng bệnh, nhưng Cha không an nghỉ vân tiếp tục xoay sở xây dựng nhà giáo lư 2 tầng gồm 14 pḥng để cho con em trong giáo xứ khỏi ngồi ngoài trời học giáo lư. Đây là điều Cha đau xót nhất và ước mong trong 16 năm qua, đến hôm nay cuối đời của Cha mới thực hiện được.
Nhà giáo lư vừa hoàn tất, Cha cũng vừa ly biệt chúng con.
Xét lại 16 năm qua, chúng con đă nhiều lần làm cho Cha phật ư, ưu phiền nhưng Cha luôn mĩm cười và rộng ḷng tha thứ. Trước giờ biệt ly này, chúng con xin Cha tha thứ những lỗi lầm của chúng con mắc phải. Chúng con nguyện xin Thiên Chúa đem Cha về hưởng phúc trường sinh trên trời và trước mặt Thiên Chúa xin Cha luôn cầu bầu cho chúng con.
Giờ đây, toàn thể cộng đoàn giáo dân giáo xứ Tuy ḥa chúng con xin cuối đầu bái biệt Cha.
Bài giảng trong lễ giỗ 100 ngày
Suốt đời, cha Nguyễn Xuân Văn đă ước mơ chia sẻ với mọi người một sứ điệp. Cái ước mơ suốt đời ấy chính là Tin Mừng mà cha đă chuyển thể thành tập thơ lục bát dài hơn 9000 câu. Tôi nhớ tới một bài hát của một nhạc sĩ Công Giáo Việt Nam đă khuất, nhạc sĩ Lê Thương. Đây là một bài hát Trung Thu dành cho thiếu nhi, nhưng thiết tưởng có nhắc đến trong bầu khí này cũng chẳng có ǵ là bất kính đối với cha Nguyễn Xuân Văn, bởi v́ trong Tin Mừng th́ cụ già và con nít có thể gặp nhau được:
Có con dế mèn,
Thức trong đêm khuya,
Hát xẩm không tiền,
Nên nghèo xác xơ.
Trời thương con dế nỉ non,
Trời cho sao sáng ngàn muôn...
Khi nói về Chúa, hát về Chúa, có lẽ chúng ta cũng chỉ là những người hát xẩm, v́ thực ra chúng ta cũng hát trong bóng tối với cả ḷng tin. Chúng ta là người hát xẩm nghèo, nhưng "trời thương con dế nỉ non, trời cho sao sáng ngàn muôn". Cha Nguyễn Xuân Văn cũng thế. Ngài dùng những đoạn lục bát, như những câu hát xẩm, để chia sẻ.
Đọc lại cuộc đời cha Nguyễn Xuân Văn, ta thấy nhiều nét cảm động: Cha được mẹ dâng cho Chúa khi c̣n trong bào thai. Cha mới lên bốn, người mẹ qua đời. Trước khi nhắm mắt, bà dặn chồng: "Tôi đă dâng nó cho Chúa, anh nhớ cho nó đi nhà trường". Đi nhà trường tức là đi tu chủng viện. Cha văn kể tiếp: "Mẹ tôi đă buộc cha tôi hứa điều ấy. Như vậy, điều quư báu nhất mẹ tôi để lại chính là đă định cho tôi một hướng đi".
Người chồng đă giữ đúng lời hứa với vợ. Ông đă giáo dục con đên nơi đến chốn và đă cho con vào chủng viện. Khi thầy Văn học xong thần học th́ ông cụ qua đời. Trước khi mất, cụ dặn con: "Cha không buộc con đâu. Nếu con thấy ḿnh có thể làm linh mục được, mà làm linh mục đàng hoàng, th́ con đi tới, bằng không th́ con cứ lui về. V́ chẳng thà làm một giáo dân tốt c̣n hơn làm một linh mục xấu. " Cha Văn thấy cụ cố yếu lắm rồi. Cha thưa lại: "Con vẫn ước ao dâng lễ mở tay khi cha c̣n sống, nhưng nay Chúa không muốn vậy, th́ con cố gắng trung thành đến cùng, để làm linh mục, dâng lễ cầu nguyện cho cha." Và cha Văn đă đi hết hành tŕnh.
Thời gian thầy ở chủng viện là thời kỳ chiến tranh. Dù phải sống ở vùng sâu, vùng xa, xa cách các đấng Bề Trên trong giáo phận, việc học bị gián đoạn, chuyện phong chức th́ mịt mù chẳng biết đến bao giờ, thầy Văn vẫn luôn trung thành.
Từ nỗi buồn mất mẹ, đến những gian nan trong cuộc sống thời chiến, và t́nh cảnh riêng của gia đ́nh, cha Văn tâm sự: "Ngay từ nhỏ tôi đă biết khổ đau., đă đối diện với khổ đau. Lên năm, lên sáu, tôi đă biết khóc thầm v́ những chuyện không nên kể, do thấy ḿnh bị đời hắt hủi, do nỗi tủi buồn v́ mồ côi, mất mẹ." Cha c̣n nói: "Thi sĩ là ǵ? Theo tôi, thi sĩ là người diễn tả được nỗi khổ đau của ḿnh và của người khác."
Không biết có phải v́ thế, v́ cuộc đời gian truân gắn liền với con người nhà thơ Nguyễn Xuân Văn, hay không, mà tôi đă ngồi đọc Sứ Điệp T́nh Thương cuả cha, từng trang...
Trong Sứ Điệp T́nh Thương, cha đă rất cẩn thận, hễ câu nào diễn ca Tin Mừng th́ in chữ đứng, c̣n câu nào do cha suy niệm, gắn kết suy tư riêng của cha vào Tin Mừng th́ in chữ nghiêng, để biết rằng đây là tâm sự riêng chứ không phải là lời Thánh Kinh. Tôi đă t́m những đoạn chữ nghiêng để đọc, v́ đó chính là nỗi ḷng của cha. Qua đó, tôi thấy đoạn tha thiết nhất, cha viết dài nhất, mà như thể t́nh cảm dâng trào nhất, chính là đoạn Đức Mẹ ngồi ru Chúa Giêsu khi mới sinh:
Con ơi, con ngủ cho ngon,
Để rồi thức tỉnh nước non mai ngày.
Con ơi, con ngủ cho say,
Đời con trăm đắng ngh́n cay đợi chờ!
H́nh như cha Nguyễn Xuân Văn đă lấy cái đau mất mẹ của ḿnh mà biến nên lời ru con, thương con mà tưởng tượng ra trước cả một cuộc đời vô cùng sóng gió.
Cha Nguyễn Xuân Văn có một tấm ḷng nhạy cảm sâu sắc trước cuộc đời. Tấm ḷng ấy được cụ thân sinh nuôi dưỡng bằng tất cả kho tàng văn hoá Việt Nam. Cho nên giờ đây đọc thơ cha Nguyễn Xuân Văn, chúng ta nhận ra cha làm thơ rất t́nh cảm. Mà đó lại c̣n là thơ lục bát, rất là cổ điển, rất là Việt Nam, như các chuyện dài bằng thơ của Việt Nam ngày trước.
Cũng với tấm ḷng ấy, cha đă đi t́m Chúa, và cha đă t́m được. Tôi muốn nói đến những câu thơ cha mô tả việc môn đệ được Chúa gọi và đi theo Chúa:
Vội vàng cuốn gói theo Thầy,
Bên đuờng dừng lại bóng cây đợi chờ!
Thật b́nh dị. Con người của Cha thật b́nh dị khi gặp Chúa cũng như khi gặp giáo dân của cha.
Lân la ướm tiếng hẹn ḥ,
Không quen, chung một chuyến đ̣ cũng quen.
Con người b́nh dị ấy mà chạm phải lời Chúa th́ gặp gỡ và đón nhận được ngay:
Lời sao như gột ḷng trần,
Như lôi đất thấp đến gần trời cao.
Và từ đó, dâng lên một quyết tâm:
Chia cay, sẻ đắng cùng Thầy,
Nước non là bạn, trời mây là nhà!
Có lẽ khi làm câu thơ ấy, cha đang nghĩ tới những ngày đi học xa nhà, vào chủng viện, giúp xứ chỗ này, chỗ kia, khi đau yếu, khi làm việc ở vùng sâu, vùng xa, đổi chỗ này sang chỗ khác. "Nước non là bạn, trời mây là nhà!"
Tâm t́nh ấy, cha ước mơ được đem chia sẻ với người khác. Trong trang đầu của tập thơ, cha viết: "Tôi muốn đem lời Chúa, lời thơ t́nh thương ghép thành vần, đặt lên miệng các bà mẹ, để từ đó chảy vào tai các em bé nằm trong nôi."
Và thưa Cha, nếu Cha ước mơ như thế th́ vào cuối cuộc đời hay trong khung cảnh hôm nay, Chúa đă cho ước mơ của Cha thành hiện thực.
Thơ của cha không phải là thơ ca bác học, đọc đến năm lần bảy lượt vẫn chưa hiểu. Thơ cha không phải là thơ không thể thuộc ḷng. Bà mẹ nào cũng có thể đọc thơ cha để ru con cách dễ dàng, và những lời thơ ấy chảy vào tai các em bé chắc cũng dễ thôi.
Trong tiểu sử của cha có kể rằng: Khi về xứ đạo đầu tiên trong cuộc đời linh mục, một xứ miền quê, cứ mỗi tối sau giờ kinh, cha ngồi kể chuyện cho giáo dân, già trẻ, lớn bé cùng nghe. Giáo dân ngồi kín hè nhà xứ. Sau khi cha đổi đi, suốt ba tháng liền, mỗi tối giáo dân vẫn kéo tới hè nhà xứ, ngồi khóc v́ nhớ thương cha.
Có lẽ những câu chuyện cha kể ngày đó không ǵ khác hơn là Sứ Điệp T́nh Thương. Trong lễ giỗ hôm nay, có nhiều cha đang làm mục vụ. Xin lỗi các cha, nhiều khi con nghĩ lẩn thẩn thế này: Chúa Giêsu ngày xưa chuyên giảng bằng dụ ngôn, c̣n bây giờ các linh mục chúng ta lại hay giảng bằng lư thuyết trừu tượng. Cho nên thật là thích thú khi biết cha Nguyễn Xuân Văn tối tối đă tập họp giáo dân lại ngay trong sân nhà xứ mà kể chuyện. Con người ấy rơ ràng muốn đưa hết tấm ḷng ḿnh chia sẻ cho người khác.
Về nghệ thuật thơ của Sứ Điệp T́nh Thương, tôi không dám bàn. Tôi chỉ nghĩ đến tác dụng Tin Mừng của nó. Với tấm ḷng muốn chia sẻ niềm vui, không muốn cho lời Chúa và giáo lư của Chúa tách biệt với chuyện đời, cha Nguyễn Xuân Văn có thể giảng cho người khác nghe như là kể chuyện. Kể chuyện như con dế nỉ non. Thế nhưng không riêng cha Nguyễn Xuân Văn kể mà chính Trời Cao đang kể. Trời thương, trời cho sao sáng ngàn muôn.
Trên tường hội trường hôm nay có nhiều tấm thư pháp trang trí, ghi những câu thơ của cha Nguyễn Xuân Văn. Có một câu như sau :
Đây là bữa tiệc nửa vời,
Chờ ngày kết thúc trên trời mai sau.
Đối với chúng ta hôm nay, bữa tiệc có thể chỉ mới nửa vời, nhưng đối với cha Nguyễn Xuân Văn, chắc hẳn giờ đây bữa tiệc đă đạt tới viên măn. Như chúng ta đă đọc trong Lời Chúa: "Ai không ăn thịt và uống máu Ta, th́ không có sự sống nơi ḿnh... C̣n ai ăn thịt và uống máu Ta th́ được sống muôn đời, và Ta, Ta sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết."
Bí tích chúng ta cử hành không phải là bữa tiệc nửa vời nhưng là bí tích của Nước Trời đă trở nên trọn vẹn. Thế nhưng, chúng ta, những người cử hành bí tích, lại đang sống kiếp lữ hành, cho nên chúng ta vẫn chỉ đang hát xẩm. Tiếng hát chúng ta chỉ là tiếng hát xẩm bởi v́ chúng ta hát về điều mà chúng ta không nh́n thấy được. Cha Nguyễn Xuân Văn đă hát như thế và ngày nay chúng ta vẫn hát như thế. Ngay cả bữa tiệc Nước Trời đang có ngay đây th́ chúng ta cũng chỉ có bằng đức tin.
Trong khi đó, cha Nguyễn Xuân Văn và những người đă ra đi trước chúng ta đang tham dự một cách khác. Và giờ đây có lẽ cha Nguyễn Xuân Văn cũng đang ngâm một bài thơ khác, hay hơn cả những bài thơ ngài đă để lại cho chúng ta. Bài thơ ấy, chúng ta chờ đợi ngày kết thúc lịch sử sẽ được nghe. C̣n bây giờ, trong ḷng tin, chúng ta cùng kết hợp với ngài trong cùng một lời tạ ơn, trong tấm bánh và trong chén rượu của thánh lễ này. Amen.
Trong số khoảng 150 người tham dự thánh lễ tưởng niệm nhân 100 ngày ra đi của Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Xuân Văn, có những anh chị em cầm bút ngoài giới công giáo. V́ thế, trong lời mở đầu thánh lễ, Đức Ông GB Lê Xuân Hoa, tức nhà thơ Xuân Ly Băng đă ngỏ lời chào đặc biệt đến các anh chị em ấy.
Thưa quí vị,
Cộng đoàn chúng ta tuy không bao nhiêu người nhưng gồm những trí tuệ của triết học, của sử học, của văn học, của âm nhạc, đặc biệt là của thi ca…Chúng ta đang gặp nhau để kỷ niệm 100 ngày ra đi của nhà thơ linh mục Nguyễn Xuân Văn.
Theo giáo lư của Chúa, không ai sống cho ḿnh, cũng không ai chét cho ḿnh, nhưng sống là sống cho Đức Kitô và chết cũng là chết cho Đức Kitô. Dù chúng ta sống, dù chúng ta chết, chúng ta vẫn thuộc về Đức Kitô, v́ Đức Kitô đă sống và đă chết để làm chủ người sống và người chết. Trong đức tin Kitô giáo,Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Xuân Văn ra đi không phải là chết mất nhưng là đă về với Thiên Chúa. Chúng ta tiếp xúc với Cha bằng đức tin và cha hiệp thông với chúng ta bằng đức mến.
Nhân danh các cha đồng tế và các tu sĩ nam nữ, tôi xin kính chào thế giới của nghệ thuật và trí tuệ. Có thể chúng ta không chung một niềm tin nhưng chúng ta cùng chung ước vọng Chân Thiện Mỹ, chung ḷng yêu thương và phục vụ nhân loại. Chúng ta đến cử hành thánh lễ là đến với Thiên Chúa Tối cao và cũng là đến với nhau, đến với cộng đồng nhân loại. Trong cùng một niềm cảm thông ḥa hợp, chúng ta nguyện đem trí tuệ, nguyện đem trái