|
TỔNG HỢP VỀ "MẬT MĂ DA VINCI"
BÀI 1 : The Da Vinci Code cơn hồng thủy định cuốn trôi toà nhà Giáo Hội?!
I. BIỂN BẰNG NỔI SÓNG Ngày 17 tháng 5 năm 2006, phim The Da Vinci Code mang cùng tựa đề với cuốn tiểu thuyết của Dan Brown sẽ được tŕnh chiếu tại Cannes, và sau đó được tung ra thị trường. Tại Hoa Kỳ những quảng cáo rầm rộ đă được thấy trên mọi nẻo đường, và ước tính có khoảng 10 triệu người sẽ xếp hàng chờ xem phim này, một con số tương đương với người đă mua và đọc cuốn tiểu thuyết đó. Nội dung cuốn tiểu thuyết được tóm gọn lại như sau: 1. Giêsu không sống đời độc thân như Kitô hữu trải qua hơn 2000 năm vẫn tin tưởng. Trên thực tế, đă có vợ, và người vợ ấy chính là Maria Mađalêna. 2. Trước khi tắt thở trên thập giá, Giêsu đă giao trách nhiệm điều hành giáo hội của ḿnh cho Maria Mađalêna. 3. Tông đồ đoàn sau đó đă t́m cách giết Maria Mađalêna khiến nàng phải chạy trốn qua Pháp trong khi mang trong bụng đứa con gái của Giêsu và của nàng. Phêrô trong thời gian làm thủ lănh đă cố gắng loại bỏ địa vị của Maria Mađalêna và không bao giờ đề cập đến nàng v́ muốn dành quyền độc tôn nam giới. 4. Giáo Hội Công Giáo t́m mọi cách che đậy bí mật cuộc t́nh giữa Giêsu và Maria Mađalêna cũng như ư muốn của Giêsu khi trao quyền lănh đạo giáo hội của ḿnh cho Maria Mađalêna. Những người được trao cho nhiệm vụ t́m kiếm và thủ tiêu miêu duệ của Giêsu là tu hội Opus Dei, một tổ chức Công Giáo được Thánh Josemaria Escriva sáng lập năm 1928 tại Tây Ban Nha. 5. Người biết được những bí mật về thân thế và gia cảnh Giêsu cũng như cuộc t́nh giữa Giêsu và Maria Mađalêna là Leonardo Da Vinci (1452-1519). Ông đă dấu bí mật này trong tác phẩm Bữa Tiệc Ly khi vẽ Gioan với h́nh dạng và ngón tay thon thả như đàn bà. Ông có ư ám chỉ rằng Gioan đấy là hiện thân của Maria Mađalêna. Ngoài ra, trong bữa Tiệc Ly hôm ấy Da Vinci không vẽ chén thánh, cũng ngầm ư rằng Maria Mađalêna chính là chén thánh, v́ nàng đang mang trong dạ ḿnh hạt máu là mầm sống của Giêsu. Để làm cho sống động và thêm phần hấp dẫn câu truyện, Dan Brown đă đưa vào cốt truyện những màn đấu trí, những pha rượt bắt, những mật mă và các lối giải mă dùng những thủ thuật của ngành gián điệp, và hàng loạt những hành động do trí tưởng tượng của ông. Nhất là đưa câu truyện vào những thời điểm và địa điểm có tích cách lịch sử như việc trở lại Công Giáo của Hoàng Đế Constantine, Công Đồng Nicarea năm 325, Tu Hội Opus Dei. Hoặc những tổ chức do ông tưởng tuợng như hội kín Priory of Sion nhằm bảo vệ sự thật về cuộc hôn nhân giữa Chúa Giêsu và Maria Mađalêna. Thật ra, một cuốn tiểu thuyết viết về một cuộc t́nh mùi mẫm, một cuộc rượt bắt, hoặc giải thoát con tim nghẹt thở như thế, hoặc bất cứ một câu truyện trinh thám, t́nh cảm nào khác dù có hấp dẫn, mê ly, rùng rợn đến đâu đi nữa cũng chỉ được một số ít người đọc. Và đọc rồi cũng quăng bào sọt rác, hay để đâu đó trên tủ sách. Nó cũng chẳng được ai nhắc tới, hay tranh căi, bởi đó chỉ là “tiểu thuyết”, mà ai cũng hiểu rằng tiểu thuyết là sản phẩm do trí tưởng tượng của tiểu thuyết gia. Nhưng cuốn tiểu thuyết The Da Vinci Code của Dan Brown đă không chỉ bao gồm những yếu tố tâm lư, t́nh cảm, xă hội, tôn giáo, chính trị, hoặc những cảnh gợi cảm, ướt át của một cốt truyện b́nh thường. Nó cũng không chỉ bao gồm những pha rượt bắt, theo dơi, thủ tiêu, và những cuộc đấu trí nẩy lửa giữa các nhân vật trong câu truyện. Điểm hấp dẫn và thu hút nổi cộm ở tác phẩm và cuốn phim này là viết và diễn tả về đời sống t́nh ái và cuộc đời của Giêsu Nazareth – Thiên Chúa Nhập Thể, Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ Nhân Loại. Quan trọng nhất là v́ Giêsu đă thiết lập Giáo Hội, và sinh hoạt Giáo Hội này không chỉ giải thoát con người khỏi ṿng u minh của nếp sống lầm than vật chất, mà c̣n là đường đưa nhân loại về vĩnh hằng. Nó hoàn toàn trái ngược với quan niệm và lối sống tự nhiên của con người, của thế gian, vốn hằng bị những đa mê, dục vọng, lối sống buông thả do Satan và đồ đệ của chúng bủa vây và mê hoặc. Cuộc chiến âm thầm nhưng rất sôi động giữa “Giêsu và Satan”, giữa “sống và chết”, giữa “thiện và ác” ấy không ngừng lại ở cái chết của Chúa Giêsu trên thập tự, mà nó vẫn kéo dài cho đến ngày tận thế, lúc âm ỷ, lúc bùng nổ. Tụ điểm quyền lực mà Satan và thế giới đen tối căm thù, ghen tỵ, và t́m cách triệt hạ là Giáo Hội của Chúa Kitô – được gán cho cái tên là trung tâm quyền lực Vatican - và các tín hữu Công Giáo. Chính ở điểm này, mà tác phẩm The Da Vinci Code được nhiều người “ṭ ṃ” t́m đọc, cũng như phim này sẽ được nhiều người “hăm hở” đón coi. Giáo Hội Công Giáo, hoặc các giáo phái khác có muốn ngăn cản th́ cũng không được, v́: · Tôi cần phải đọc tiểu thuyết này để hiểu xem Giêsu đă yêu Maria Mađalêna như thế nào. Họ tỏ t́nh ra sao? Sinh hoạt t́nh ái của họ như thế nào? Đứa con gái trong bụng Maria Mađalêna ấy tên ǵ và sau này ra sao? Và hiện nay hậu duệ của Giêsu và Maria Mađalêna ở đâu, và có những ai? · Tôi phải đi xem phim để nh́n xem cách thức tỏ t́nh, những màn âu yếm, ân ái và cách thức cư xử của Giêsu đối với Maria Mađalêna như thế nào? Giêsu nói ǵ với nàng trên thập giá. Nàng phải lao đao, chạy trốn tập đoàn Tông Đồ t́m cách giết hại như thế nào? Nó có những điểm ǵ khiến Vatican khó chịu và t́m cách ngăn cản? · Nhưng nhất là, tôi muốn đọc và xem để hiểu tại sao Vatican, tại sao người Công Giáo lại yêu, lại mến, lại tôn thờ một con người trần tục và không khác ǵ mọi người chúng ta đây, nếu thực sự nó xẩy ra đúng như Dan Brown đă viết, cũng như những ǵ đă được các tài tử diễn lại trên màn ảnh?
II. CƠN HỒNG THỦY THỜI ĐẠI Cơn sóng dữ The Da Vinci Code đă trở thành một trận hồng thủy cuồng nộ với sức cuốn hút ghê sợ do ảnh hưởng tâm lư và xă hội. Nó càng trở thành hung hăn hơn khi xử dụng những kỹ thuật tân kỳ của ngành điện ảnh, và được sự tiếp tay của truyền thông, báo chí. Đặc biệt, là dựa vào quyền tự do ngôn luận của những quốc gia vốn dĩ tôn thờ tự do cách quá trớn. Ba cứ điểm hay tiền đồn bảo vệ niềm tin và sinh hoạt Giáo Hội Công Giáo đă và đang bị cơn hồng thủy này quét qua, đó là: · Niềm tin nơi Đức Kitô. · Vai tṛ ơn gọi trong Giáo Hội. · Nữ quyền trong Giáo Hội. Đây là 3 điểm nóng mà ngày đêm thế giới duy vật, vô thần, vật chất và hưởng thủ này t́m mọi cách để chối bỏ. Nó không thể hiểu và cũng không muốn hiểu. Bởi v́ nó hoàn toàn xa lạ với trí khôn, với suy tư và lối sống của con người thời đại. Ba đợt sóng ngầm này được coi là những sức mạnh khiến có thể làm sụp đổ ṭa nhà Giáo Hội. Và chắc chắn ở trong ba đợt sóng ngầm ấy có mặt của Satan và bè lũ chúng.
1. Niềm tin nơi Đức Kitô: Tính độc hại và nguy hiểm của cuốn tiểu thuyết The Da Vinci Code là ở chỗ nhằm triệt tiêu và phá bỏ niềm tin vào Đức Kitô. Đây là điều mà tác giả của nó đă cố gắng thuyết phục độc giả bằng cách trưng dẫn những bằng cớ cho hay Đức Giêsu cũng chỉ là một thanh niên như mọi thanh niên khác, là một người đàn ông như mọi đàn ông khác. Và qua con người tự nhiên ấy, Giêsu cũng có người yêu, cũng có vợ và trước khi chết vợ cũng đang mang thai. Theo tác giả Dan Brown th́ cho đến Công Đồng Nicarea năm 325, các nghị phụ mới thêm vào những điều nói về thiên tính của Đức Giêsu Kitô: “Tôi tin kính một Chúa Giêsu Kitô Con Một Thiên Chúa, sinh bởi Đức Chúa Cha từ trước muôn đời. Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa. Ánh sáng bởi ánh sáng. Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật. Được sinh ra mà không phải tạo thành, đồng bản tính với Đức Chúa Cha.” Và cho đây là những điều phải tin. Khi được hỏi cảm nghĩ của ḿnh sau khi đọc cuốn tiểu thuyết này, một bạn trẻ đă trả lời: “Có thấy nói xấu Chúa Giêsu ở chỗ nào đâu. Tác giả chỉ dựa vào và tŕnh bày những chứng minh lịch sử về Chúa Giêsu thôi mà. Mấy người lớn th́ động tí là làm ồn ào cả lên”. Cái thâm hiểm của vấn đề là tác giả không hô hào hay ép buộc ai bỏ đạo, chối bỏ tin nhận Đức Kitô là Chúa Cứu Thế, mà chỉ là đặt lại vấn đề cho có tính lịch sử, hợp với suy luận và sự thật. Mà tính lịch sử, suy luận và sự thật lại bị chính tác giả cố t́nh quảng diễn sai lạc một cách tinh vi đến nỗi người đọc, nhất là giới trẻ không thể hiểu được đâu là sự thật, và đâu là những điều mà tác giả đang cố t́nh làm cho ḿnh mất niềm tin vào Thiên Chúa. Chúa Giêsu chỉ là một người b́nh thường. Ngài đă có vợ và con. Vậy th́ Ngài có c̣n là cứu chúa của nhân loại nữa hay không? Việc Ngài chết trên thập giá có phải là một sự thật không? Nếu như việc Ngài chết có thật, nhưng v́ không phải là Thiên Chúa, vậy cái chết ấy có đem lại ơn cứu độ và giải thoát cho nhân loại không? Và nếu không, th́ Giáo Hội đă lường gạt niềm tin của các tín hữu. Hay như các trưởng tế, kỳ lăo, Pharisiêu đă nói, việc Ngài chịu chết là do hành động phản loạn? Là một người đă có vợ, liệu Maria Mađalêna có bằng ḷng cho Ngài chết như vậy không? Chết để làm ǵ? Chết cho ai? Tâm lư nguời đàn bà, nhất là người đàn bà đang mang thai rất cần sự giúp đỡ của chồng, chắc chắn nàng không thể để cho Ngài xẻ thị ḿnh và lấy máu ḿnh nuôi sống kẻ khác, và nhất là chết cho kẻ khác trừ khi với ư đồ khác. Tóm lại, nếu Giáo Hội Công Giáo đă phỉnh gạt, che dấu các tín hữu, th́ “có ích ǵ cho niềm tin” của họ. Và họ có buộc phải tin nhận một điều mà xưa rầy vẫn được coi là thánh thiện, là cần thiết cho phần rỗi và ơn cứu độ của ḿnh hay không? Ở đây Dan Brown đă tỏ ra bén nhậy và bắt kịp với những thao thức của con người thời đại, một nhân loại đang bị hoang mang và chao đảo. Một nhân loại đang bị giằng co giữa ảnh hưởng của nền văn hóa sự chết và niềm tin vào Đức Kitô tử giá và phục sinh.
2. Ơn gọi trong Giáo Hội: Nếu Chúa Giêsu không phải là một người độc thân, vậy th́ giá trị ơn gọi của Giáo Hội cũng đă đến lúc phải xét lại; đặc biệt là ơn gọi tận hiến. Theo như thầy ḿnh, họ không cần phải là những người độc thân. Và điều này là do Giáo Hội bày tạo nhằm củng cố vai tṛ độc tôn nam giới đúng như Phêrô và tông đồ đoàn đă làm khi chiếm đoạt vai tṛ điều hành giáo hội từ tay Maria Mađalêna. Hậu quả th́ sao? Hẳn là Dan Brown muốn bêu rếu Giáo Hội Công Giáo khi nhắm vào vết thương nhức nhối, đặc biệt là Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ qua biến cố khủng hoảng t́nh dục nơi một số giáo phẩm, linh mục và tu sỹ. Tác giả hẳn cũng muốn xoáy vào bản năng dục vọng tự nhiên, khi làm thức tỉnh bản năng t́nh dục, và đẩy mạnh những đ̣i hỏi cuộc sống đồng tính nơi hàng giáo sỹ và tu sỹ, nếu như bất đắc dĩ phải sống đời độc thân. Ngoài ra, nếu đời sống độc thân không là một điều cần thiết nữa, th́ đă đến lúc Giáo Hội phải đặt lại cái nh́n về đời sống và giá trị ơn gọi tu tŕ. Các đ̣i hỏi gần đây của những linh mục ủng hộ đồng tính và hôn nhân đồng tính, cũng như những người đồng tính muốn làm linh mục. Và đặc biệt là sự yếu đuối của một số giám mục, linh mục và tu sỹ đă khiến cho điều mà Dan Brown suy diễn trở thành dễ chấp nhận. Nếu như ơn gọi tận hiến bị đánh bật gốc rễ, th́ ơn gọi hôn nhân gia đ́nh sẽ như thế nào? Và đó là những ǵ con người ngày nay đang làm nhằm xóa bỏ sự thánh thiện, cao quí và ân sủng của đời sống hôn nhân khi tự do đồng tính, hôn nhân đồng tính và ly dị.
3. Nữ quyền trong Giáo Hội: Ngoài việc tấn công trực diện vào thành tŕ đức tin và ơn gọi của Giáo Hội, tác giả Dan Brown c̣n nhắm vào một điểm hết sức nhậy cảm mà có lẽ tác giả cho là Giáo Hội Công Giáo không muốn trực diện, đó là nữ quyền trong Giáo Hội, là sự b́nh quyền nam nữ. Theo Dan Brown, Thánh Phêrô trong những năm đầu của Giáo Hội đă cố gắng không đả động ǵ đến Maria Mađalêna v́ một mục đích độc tôn vai tṛ của nam giới. Nhưng ngày nay, điều này đang tạo nên một cơn sốt dữ dội về vai tṛ và sự b́nh đẳng trong phẩm trật Giáo Hội theo một lối nh́n tự nhiên và mang tính xă hội. Nữ quyền trong Giáo Hội. Đây là điều mà có lẽ Dan Brown muốn khai thác triệt để hầu tạo sự chia rẽ trong Giáo Hội. Hiện nay cao trào nữ quyền đang là điểm nóng không những cho Giáo Hội Công Giáo, mà các giáo phái Tin Lành, và Anh Giáo nữa. Riêng Anh Giáo th́ đă phải cho phép nữ giới làm linh mục và giám mục. Điều này đă tạo nên khó khăn cho bước đường hợp nhất Kitô Giáo giữa Anh Giáo và Công Giáo. Và có lẽ v́ thế, Dan Brown muốn nhắc đến nữ quyền trong Giáo Hội bằng cách tạo ra vai tṛ thủ lănh của Maria Mađalêna, người mà ông cho là đă được Chúa Giêsu trao phó nhiệm vụ điều hành Giáo Hội của Ngài. Đồng thời đặt Phêrô vào vị trí đối nghịch với nữ quyền khi cho rằng ông đă chiếm đoạt quyền điều hành Giáo Hội từ tay Maria Mađalêna, và c̣n t́m cách trù dập nàng. Tưởng cũng nên biết rằng vấn đề linh mục lấy vợ và nữ giới làm linh mục không phải là câu hỏi mới mẻ đối với Giáo Hội Công Giáo. Vấn đề này cũng không phải là không đạt được sự hậu thuẫn của nhiều linh mục và cả giám mục nữa. Tóm lại, nữ quyền, linh mục có vợ, và Thiên Tính của Đức Kitô là ba điểm nổi bật mà Dan Brown qua cuốn tiểu thuyết của ông nhắm vào Giáo Hội Công Giáo. Chê bai, đả phá, hay thách thức. Dầu sao đây là những điểm mà Giáo Hội Công Giáo không bao giờ nhượng bộ. Nó đă được Đức Gioan Phaolô II kiên tŕ bảo vệ qua nhiều sóng gió. Nay th́ qua The Da Vinci Code, Dan Brown lại cố t́nh tạo ra một cơn hồng thủy nhắm vào toà nhà Giáo Hội.
III. PHÊRÔ CON LÀ ĐÁ Nhưng có lẽ Dan Brown khi viết cuốn tiểu thuyết này là chỉ có ư nhắm vào một đối thủ nặng kư nhất, nhưng lại hiền từ và dễ tha thứ nhất để tạo sự ṭ ṃ và gây hấp dẫn cho độc giả hầu thu nhập nhiều. Ông cũng thừa biết rằng một cuốn tiểu thuyết của ông, chứ trăm cuốn tiểu thuyết như tác phẩm của ông th́ cũng không làm lung lay hay sụp đổ ṭa nhà Giáo Hội được. Bởi v́ ṭa nhà này là chính thân ḿnh mầu nhiệm của Đức Kitô. Ngài đă xây nó trên đá tảng Phêrô như lời Ngài đă nói với ông: “Phần Thầy, Thầy bảo anh, anh là Đá, và trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh Thầy, mà dù các cửa hỏa ngục dấy lên cũng không thắng nổi” (Mt 16:18). Thật vậy, ngay những ngày đầu khi Giáo Hội Chúa c̣n sơ khai, Saolô sau này là Phaolô cũng đă thẳng tay đàn áp và bắt bớ. Tiếp tới là hơn 300 năm đầu Giáo Hội đă trải qua bao sóng gió, bắt bớ và thử thách. Bản thân của Phêrô và Phaolô cũng đă bị hành quyết v́ niềm tin và v́ Giáo Hội. Trải qua các thời đại, và gần đây là những chủ thuyết duy tân, duy lư, duy vật, vô thần, hiện sinh, và ghê gớm nhất là chủ thuyết Cộng Sản với bao khí giới, quyền lực trong tay mà vẫn không dập tắt được niềm tin của các tín hữu. Rồi phong trào ly thân, ly dị, đồng tính và hôn nhân đồng tính, chủ thuyết tự do chọn lựa của nữ giới với hàng triệu triệu vụ phá thai hằng năm tuy có làm cho đời sống Đức Tin của Kitô Giáo bị chao đảo, Giáo Hội bị thử thách nhưng vẫn không làm sụp đổ ṭa nhà Giáo Hội. Không gạt bỏ Đức Tin nơi các tín hữu. Khi cuốn tiểu thuyết của Dan Brown tung ra thị trường, một cuộc khảo cứu tổng quát tại Hoa Kỳ và Gia Nă Đại đă cho thấy kết quả những người tin rằng “Chúa Giêsu đă chết trên thập giá trước khi sống lại và tiến vào cuộc sống vĩnh hằng” như sau: · Hoa Kỳ: 78% tin 13 không tin · Gia Nă Đại: 73% tin 17 không tin Riêng với 17% những người Gia Nă Đại không tin những điều đó, đă cho rằng việc Chúa Giêsu chịu chết là huyền hoặc. Việc Ngài lập gia đ́nh với Maria Mađalêna như được nói đến trong cuốn tiểu thuyết của Dan Brown là có thật. Thật ra, cũng giống như bất cứ tư tưởng hay triết thuyết nào được tung ra th́ cũng có người đón nhận và có người không đón nhận. Việc đón nhận hay không tùy vào sự hiểu biết, ư thức và tâm lư mỗi người. Dan Brown đă bỏ công sức để tạo nên một kiệt tác phẩm mà có lẽ ông cho là đắc ư để thu hút nhiều độc giả. Nhưng ông quên một điều những ǵ mà ông đang cố tâm đả phá lại nằm trong Thánh Kinh, mà Thánh Kinh lại là cuốn sách bán chạy nhất, và được nhiều người t́m đọc nhất. Hậu quả của cơn hồng thủy The Da Vinci Code chắc chắn rồi ra cũng kéo theo một số rác rến và những ngôi nhà xập xệ kiểu “nhà xây trên cát” (Mt 7:26), mà Chúa Giêsu đă có lần đề cập đến. Đó là những kẻ yếu ḷng tin hoặc không tin nhận Chúa. Những Kitô hữu sống đạo cách ươn ái và trễ nải. Những người đến nhà thờ v́ bắt buộc. Những kẻ “vừa làm tôi Thiên Chúa lại vừa làm tôi tiền bạc” (Mt 6:24). Và những kẻ mà miệng nói “lậy Chúa, mà ḷng th́ xa” Chúa. Nhất là Giáo Hội lâu lâu cũng cần được thanh tẩy, và luyện lọc.
IV. KITÔ HỮU HỌC ĐƯỢC G̀ NƠI BIẾN CỐ NÀY? Không thể coi thường biến cố này và cũng không quá bi quan v́ một vài thiệt hại nhỏ có thể xẩy ra do ảnh hưởng của cuốn tiểu thuyết cũng như cuốn phim ấy. Nhưng điều căn bản là mỗi Kitô hữu chúng ta học được ǵ qua biến cố này? Qua biến cố này, Kitô hữu chúng ta cần phải xét lại niềm tin và lối sống đạo của ḿnh. Trong những tấn công mà thù địch của niềm tin, của Giáo Hội tung ra, Kitô hữu chúng ta không thể phó mặc cho Giáo Hội hoặc những giáo chức trong Giáo Hội lo, c̣n phần ḿnh th́ cứ hốt hoảng, hoang mang, chao đảo. Nhưng mỗi Kitô hữu chúng ta phải có trách nhiệm đối phó với những trào lưu tư tưởng và lư thuyết sai lầm như thế để bảo vệ niềm tin, bảo vệ Giáo Hội. Bởi v́ Giáo Hội là chính chúng ta. Mỗi Kitô hữu chúng ta là Giáo Hội thu nhỏ, là phần tử không thể thiếu trong Giáo Hội. Và bổn phận chúng ta là: · Học hỏi Giáo Lư, Kinh Thánh và những tư tưởng đạo lư hầu giúp chúng ta vững niềm tin. Không chỉ thuần túy dựa vào các linh mục hoặc giám mục, nhưng chính chúng ta phải có trách nhiệm đào sâu Giáo Lư thánh thiện cho chính ḿnh. · Cầu nguyện và sống đời tâm linh đạt tới mức trưởng thành. Lúa và cỏ lùng đều mọc chung trong một thửa ruộng. Chiên và dê cùng ăn lẫn lộn trong một cánh đồng. Đó là mầu nhiệm sự sống, mầu nhiệm cứu độ. Thiên Chúa đă có quan pḥng của Ngài trong cuộc sống mỗi chúng ta, và cần thiết là chúng ta phải vượt qua những thách đố của cuộc sống. Đức tin thực hành mới là đức tin trưởng thành, đức tin đem lại sự sống đời đời: “Đức tin không việc làm là đức tin chết” (Giacôbê 2:17). Mà Đức Tin thực hành là Đức Tin phải thắng vượt thử thách. V́: “Ai bền đỗ đến cùng mới được cứu rỗi” (Mt 10:22).
BÀI 2 : TỔNG HỢP DA VINCI CODE
Trích nguoitinhuu.com
1. "Da Vinci Code" là ǵ? Đó là một cuốn tiểu thuyết được nhà xuất bản Doubleday cho phát hành vào tháng Ba 2003 và được quảng cáo rầm rộ. Kết quả là cuốn này đứng đầu danh sách bán chạy nhất của New York Times với hàng triệu ấn bản. Trong năm 2006 một cuốn phim sẽ được ra mắt dựa trên tiểu thuyết này. 2. "Da Vinci Code" nói về cái ǵ? Đó là một câu chuyện giật gân bao gồm nhiều tổ chức bí mật, các âm mưu, Giáo Hội Công Giáo, và "sự thật" giả tưởng về Đức Giêsu Kitô. Đây là phần tóm lược của chính tác giả Dan Brown: Một chuyên gia biểu tượng (symbologist) nổi tiếng của Harvard được mời đến Viện Bảo Tàng Louvre để khảo cứu một loạt bí ẩn có liên hệ đến các tác phẩm của nhà danh họa Da Vinci. Trong khi t́m hiểu các bí ẩn ấy, ông khám phá ra yếu tố then chốt của một trong những bí ẩn lớn lao nhất của mọi thời đại... và ông trở nên một người bị săn đuổi. Qua t́nh tiết của câu chuyện, tiểu thuyết này cho rằng chính Giáo Hội Công Giáo luôn luôn duy tŕ một âm mưu lớn lao, kéo dài hàng thế kỷ để che giấu không cho công chúng biết "sự thật" về Đức Giêsu Kitô, và các tay sai của Giáo Hội sẵn sàng thi hành bất cứ ǵ có thể, kể cả việc giết người, để duy tŕ âm mưu đó. 3. Danh họa Leonardo da Vinci có dính dáng ǵ đến câu chuyện này? Da Vinci được miêu tả là một cựu thủ lănh của âm mưu nhằm bảo vệ "sự thật" về Đức Giêsu Kitô. Trong tiểu thuyết, ông ta được cho rằng đă cài đặt những dấu hiệu bí mật và mă số trong các tác phẩm của ông, nhất là trong bức tranh Tiệc Ly. Theo cuốn tiểu thuyết, bức tranh này có vẽ người vợ của Đức Giêsu, là Maria Mađalêna, ngồi bên cạnh như một biểu hiệu quan trọng trong những giảng dậy của Đức Giêsu. Trên thực tế, nhân vật mà tác giả Dan Brown cho là Maria Mađalêna th́ đó là Thánh Gioan Tông Đồ, người mà truyền thống thường coi là vị tông đồ trẻ nhất và v́ thế các bức tranh thời trung cổ thường vẽ ngài không có râu. 4. Tại sao người Công Giáo phải lưu tâm đến cuốn tiểu thuyết này? Tuy là một truyện giả tưởng, cuốn sách này tự cho là một công tŕnh nghiên cứu tỉ mỉ, và qua nhiều trang giấy nó muốn người ta nghĩ rằng nó dựa trên sự thật. Ngay ở đầu sách nó có cả một trang "dữ kiện" nhấn mạnh đến tính chất được cho là có thực của các ư tưởng đặc biệt trong sách. Kết quả là nhiều độc giả, Công Giáo hay không Công Giáo, đều coi các ư tưởng đó là quan trọng. Vấn đề là cuốn sách này đưa ra nhiều ư tưởng không đúng sự thật, và chúng đi thẳng vào cốt lơi của đức tin Công Giáo. Thí dụ, cuốn tiểu thuyết này cổ vơ các ư tưởng sau: - Đức Giêsu không phải là Thiên Chúa; ngài chỉ là một con người. - Đức Giêsu kết hôn với bà Maria Mađalêna. - Bà này được tôn thờ như một nữ thần. - Đức Giêsu làm bà mang thai và có một đứa con gái. - Người con gái này đứng đầu một ḍng họ nổi tiếng và hiện vẫn c̣n lưu truyền ở Âu Châu cho đến ngày nay. - Kinh Thánh là do một hoàng đế ngoại đạo La Mă tổng hợp. - Các cuốn Phúc Âm được sửa đổi để hỗ trợ cho những luận điệu của Kitô Hữu sau này. - Theo các Phúc Âm nguyên thủy th́ bà Maria Mađalêna chứ không phải ông Phêrô được lệnh thành lập Giáo Hội. - Có một tổ chức bí mật được gọi là Priory of Sion hiện vẫn tôn thờ bà Maria Mađalêna như một nữ thần và cố gắng duy tŕ sự thật này. - Giáo Hội Công Giáo có biết điều này và từng cố gắng hàng thế kỷ để ngăn cản. Giáo Hội thường phạm tội giết người khi thi hành công việc này. - Giáo Hội Công Giáo sẵn sàng và thường ám sát các hậu duệ của Đức Giêsu không cho ḍng dơi ngài phát triển. Người Công Giáo phải lưu tâm đến cuốn sách này v́ nó không chỉ sai lầm tŕnh bầy Giáo Hội như một tổ chức giết người nhưng nó c̣n ngụ ư rằng đức tin Kitô Giáo th́ thực sự lầm lạc. 5. Ai là tác giả cuốn tiểu thuyết này? Tác giả là Dan Brown. Ông ta nguyên là một thầy giáo Anh Văn từng viết ba cuốn sách. Hai cuốn đầu, Digital Fortress và Deception Point, là những cuốn giật gân thời đại. Với cuốn tiểu thuyết thứ ba, Angels & Demons, ông quay sang kiểu giật gân dính dáng đến tôn giáo và Ṭa Thánh Vatican. Cuốn Da Vinci Code tiếp tục chiều hướng đó, và nó nổi tiếng đến độ cứu văn được số bán của các cuốn trước. Ông Brown dự định dùng cuốn The Da Vinci Code như một bàn đạp cho hàng loạt sách tương tự sẽ dùng đến người hùng của câu chuyện là Robert Langdon, và nhân vật sẽ "đặt chân đến Ba Lê, Luân Đôn và Hoa Thịnh Đốn" để khám phá ra các "sự thật" khác. 6. Luận điệu của cuốn sách về Priory of Sion là ǵ? Theo trang "sự thật", Priori of Sion là một tổ chức bí mật có thật ở Âu Châu được thành lập năm 1099. Vào năm 1975, Bibliothèque Nationale (Thư Viện Quốc Gia) ở Ba Lê t́m thấy các mảnh giấy da được gọi là Les Dossiers Secretes (Hồ Sơ Mật), trong đó kể ra một lô phần tử của tổ chức Priori of Sion, kể cả Isaac Newton, Botticelli, Victor Hugo, và Leonardo da Vinci. Cuốn tiểu thuyết này tiếp tục vẽ vời Priori of Sion như một tổ chức bí mật nhằm bảo vệ ḍng giống của Đức Giêsu và bà Maria Mađalêna. V́ nó được cho là nắm giữ bí mật về ḍng giống này nên bị Giáo Hội Công Giáo bách hại. Tổ chức này c̣n tận tụy tôn thờ "nữ thần" và tổ chức các cuộc truy hoan như một h́nh thức thờ phượng. 7. Les Dossiers Secretes (Hồ Sơ Mật) là ǵ? Đó là một lô tài liệu được t́m thấy trong Bibliothèque Nationale mà có vẻ nó đă thiết lập phả hệ lịch sử của tổ chức bí mật Priory of Sion. Các tài liệu này được phổ biến trong những năm 1970 và được dùng làm nền tảng cho các cuốn Holy Blood, Holy Grail, The Messianic Legacy, và sau này, cuốn The Da Vinci Code. Các tài liệu này được thành h́nh bởi một nhóm đứng đầu là Pierre Plantard, người bị kết tội lừa đảo. Tuy cuốn The Da Vinci Code tiếp tục coi tài liệu này là xác thật, nhiều văn sĩ về loại "lịch sử" bí mật cho rằng chúng giả mạo. Ngay cả các tác giả cuốn Holy Blood, Holy Grail, và The Messianic Legacy sau này cũng đặt vấn đề. 8. Câu chuyện thật của tổ chức Priori of Sion là ǵ? Priori of Sion là một nhóm được thành lập năm 1956 bởi bốn thanh niên người Pháp. Hai người là André Bonhomme (là chủ tịch khi thành lập) và Pierre Plantard (trước đó bị sáu tháng tù v́ tội gian lận và biển thủ). Tên của nhóm này được đặt theo một ngọn núi ở Pháp (Col du Mont Sion), chứ không phải núi Sion ở Giêrusalem. Nó không dính dáng ǵ đến các thuộc Thập Tự Chinh, hoặc các phong trào trước đây nhằm du nhập tên "Sion" vào tên của họ. Nhóm này tan vỡ sau một thời gian ngắn, nhưng sau đó Pierre Plantard phục hồi lại, tự cho rằng hắn là "đại thủ trưởng" của tổ chức, và bắt đầu đưa ra các luận điệu về tính chất cổ điển của nhóm, các phần tử lúc đầu, và các mục đích thực sự. Chính Pierre là người cho rằng tổ chức này phát xuất từ các cuộc Thập Tự Chinh, hắn (cùng với các cộng tác viên sau này) đă sáng tác và thêm mắm muối cho Les Dossiers Secretes trong Bibliothèque Nationale, và hắn dựng ra câu chuyện là tổ chức này từng bảo vệ một hoàng tộc bí mật mà một ngày nào đó sẽ trở lại nắm quyền chính trị. 9. Đâu là bằng cớ cho rằng đây là gốc gác đích thật của tổ chức Priori? Sau khi những luận điệu của tên Plantard về tổ chức Priori được công chúng chú ư, các cộng tác viên của hắn trước đây lại mâu thuẫn với hắn. Vào năm 1996 trong một công bố được người chủ tịch đầu tiên là André Bonhomme đưa ra cho đài BBC, ông khẳng định: Tổ chức Priori of Sion không c̣n hiện hữu nữa. Chúng tôi không bao giờ dính dáng đến bất cứ hoạt động nào có bản chất chính trị. Đó là bốn người bạn đến với nhau cho vui. Chúng tôi tự gọi ḿnh là Priori of Sion v́ có một ngọn núi cùng tên ở gần đó. Tôi chưa từng gặp Pierre Plantard trên hai mươi năm qua và tôi không biết hắn có ư định ǵ nhưng hắn luôn luôn có óc tưởng tượng dồi dào. Tôi không hiểu tại sao người ta lại làm lớn chuyện từ một điều chẳng là ǵ cả. Chính đài BBC kết luận: Không có một chứng cớ nào về tổ chức Priori of Sion măi cho đến thập niên 1950; để t́m ra tổ chức này, bạn phải đến một thành phố nhỏ tên là St. Julien. Theo luật lệ của Pháp, mọi câu lạc bộ hay tổ chức mới đều phải đăng kư với nhà chức trách, và đó là lư do tại sao có một hồ sơ ở đây cho thấy rằng tổ chức Priori of Sion đă điền đầy đủ giấy tờ vào năm 1956. Theo một phần tử sáng lập, tên của tổ chức kỳ cục này không phải xuất phát từ Giêrusalem nhưng từ một ngọn núi gần đó (cao khoảng 786 mét). Hồ sơ này cũng viết rằng Pierre Plantard, đại thủ trưởng tự xưng, nhân vật chính của câu chuyện này đă từng bị tù một thời gian.
10. Cuốn The Da Vinci Code nói ǵ về Opus Dei? Theo trang "sự thật": Một phủ giám hạt của Vatican gọi là Opus Dei, là một bè phái Công Giáo rất đạo đức từng là đề tài của cuộc tranh luận mới đây v́ những việc tẩy năo, ép buộc, và một thực hành nguy hiểm gọi là "phạt xác." Opus Dei vừa mới hoàn tất việc xây cất National Headquarters (Tổng Hành Dinh Quốc Gia) trị giá 47 triệu ở số 243 đường Lexington Nữu Ước. Cuốn tiểu thuyết này tiếp tục diễn tả Opus Dei là "một Giáo Hội Công Giáo" và tŕnh bầy nó như một đan viện với các phần tử có nhiệm vụ ám sát. 11. Lịch sử thật sự của Opus Dei là ǵ? Theo vị giám đốc liên lạc của Opus Dei Hoa Kỳ, ông Brian Finnerty: Opus Dei được thành lập ở Tây Ban Nha vào năm 1928 bởi một linh mục Công Giáo, Thánh Josemaria Escrivá, với mục đích cổ vũ sự thánh thiện của giáo dân. Tổ chức này bắt đầu gia tăng với sự hỗ trợ của các giám mục địa phương và được chuẩn nhận như một giáo hoàng học viện đời bởi Ṭa Thánh vào năm 1950. Hoạt động của Opus Dei từng được chúc lành và được khuyến khích bởi các Giáo Hoàng Gioan XXIII, Phaolô VI, Gioan Phaolô I và Gioan Phaolô II. Vào năm 1982, Đức Gioan Phaolô II đặt tổ chức này như một phủ giám hạt tư của Giáo Hội Công Giáo sau khi cẩn thận nghiên cứu vai tṛ của nó trong sứ vụ của Giáo Hội. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă gọi vị sáng lập tổ chức Opus Dei là "vị thánh của đời sống hàng ngày." 12. Opus Dei trong thực tế so sánh với trong tiểu thuyết The Da Vinci Code th́ như thế nào? Có rất nhiều điểm không đúng trong tiểu thuyết The Da Vinci Code. Sau đây là một số điều hiển nhiên mà ông Finnerty đă xếp loại và phê b́nh: - Tác giả chứng tỏ sự thiếu hiểu biết về cơ cấu Giáo Hội Công Giáo và các tổ chức khác nhau của Giáo Hội. Không những ông sai lầm nhận định Opus Dei như một "bè phái" ông c̣n gọi tổ chức ấy là "một Giáo Hội Công Giáo," một "tu hội," một "Phủ giám hạt tư của chính Đức Giáo Hoàng," và "Phủ Giám Hạt Tư của Thành Phố Vatican." - Gọi Opus Dei là "một Giáo Hội Công Giáo" th́ không có nghĩa ǵ cả. Opus Dei cung cấp việc đào tạo tinh thần hơn là các chức năng của một giáo phận b́nh thường, ngoại trừ một vài trường hợp tách biệt mà Đức Giáo Hoàng hay một giám mục yêu cầu Opus Dei thi hành công việc nào đó. Chính v́ thực chất của ư niệm "chung" mà chỉ có một Giáo Hội Công Giáo, và Opus Dei là một phần tử ở trong đó. - Tu hội cũng là một danh từ không thể áp dụng cho Opus Dei, v́ tổ chức này chỉ cung cấp một phương cách nên thánh cho giáo dân là những người không được kêu gọi vào một ḍng tu. Cũng chính v́ lư do này, việc diễn tả sự hiểm ác của Opus Dei như một đan sĩ trong áo ḍng và các trung tâm của Opus Dei như ḍng kín là nơi người ta rút lui ra khỏi thế gian để sống đời cầu nguyện th́ hoàn toàn trái với thực tế. - Những chuyển vị thay đổi của "phủ giám hạt tư" mà tác giả dùng để diễn tả Opus Dei đă gợi lại những điều tỉ như một đạo binh riêng của đức giáo hoàng, một nhiệm vụ ngoài pháp lư không thuộc quyền bính của Giáo Hội. Chữ "tư" không có nghĩa Opus Dei thuộc về cá nhân đức giáo hoàng hay viên chức Ṭa Thánh nhưng nó ám chỉ sự kiện là quyền tài phán của phủ này áp dụng cho cá nhân chứ không phải một lănh thổ riêng biệt. - Opus Dei đặc biệt nhấn mạnh đến việc giúp đỡ giáo dân t́m kiếm sự thánh thiện trong đời sống hằng ngay. Nó không có đan sĩ, hay bất cứ phần tử nào như nhân vật ghê sợ trong tiểu thuyết là Silas. - Tác giả diễn tả về những "rèn luyện" của Opus Dei, được tượng trưng bởi các nghi thức đánh tội đầy máu của Silas, là những thêu dệt tệ hại và xuyên tạc thô bỉ. Ông đă lấy những hành động đạo đức về ăn năn sám hối của các vị đại thánh trong Giáo Hội, kể cả Thánh Josemaria Escrivá, và biến chúng thành một tấn tuồng ghê sợ quái dị. - Giống như vậy, việc dậy bảo đức tin, khuyên bảo tinh thần, và trở nên một Kitô Hữu nhân chứng (đối với tác giả đó là "tẩy năo," "ép buộc," hay "chiêu mộ") là những khía cạnh căn bản của đức tin Kitô Giáo, chứ không phải những rèn luyện của Opus Dei. 13. Tổ chức Opus Dei có phản ứng với nhà xuất bản cuốn tiểu thuyết này không về những miêu tả sai lầm trong sách? Có. Ông Finnerty giải thích rằng tổ chức đă gửi một lá thư phản kháng với nhà xuất bản, ông nói: "Một ít lâu trước khi phát hành cuốn The Da Vinci Code, chúng tôi có gửi một lá thư cho nhà xuất bản Doubleday để vạch ra một số trong biết bao sai lạc trong tiểu thuyết và giải thích rằng "việc diễn tả tổ chức Opus Dei trong cuốn sách này th́ sai lầm và không đúng trong bất cứ phương cách nào." Lá thư cũng cho biết thật sự Opus Dei là ǵ. 14. Cuốn The Da Vinci Code nói ǵ về nguồn gốc Kinh Thánh? Cuốn này viết: "Bạn ơi, Kinh Thánh là một sản phẩm của con người... Không phải của Thiên Chúa... Kinh Thánh, như chúng tôi biết ngày nay, được tổng hợp bởi một hoàng đế ngoại đạo Rôma là Constantine Đại Đế" (231) Đây là điều sai lầm. Tiến tŕnh tổng hợp Kinh Thánh phải mất một thời gian dài; nó không chỉ được tổng hợp có một lần. Cũng như Constantine không dính dáng ǵ đến tiến tŕnh này, dù trước hoặc sau khi ông trở lại Kitô Giáo. 15. Đâu là chứng cớ Kinh Thánh được h́nh thành độc lập với Constantine? Cựu Ước được h́nh thành trong nhiều thế kỷ. Chúa Giêsu và các tông đồ đă nhận biết giá trị của các bản văn Cựu Ước có trong thời của các ngài, như được minh chứng bởi các câu sau đây: - "Và bắt đầu từ Môsê và các ngôn sứ, Người (Đức Giêsu) giải thích cho họ những ǵ liên quan đến Người trong sách thánh" (Luca 24:27). - "Các ông t́m kiếm trong sách thánh, v́ nghĩ rằng trong đó các ông t́m được sự sống đời đời; và chính những điều đó lại làm chứng về tôi"(Gioan 5:39). - "Theo thói quen, ông Phao-lô đến với họ, và trong ba tuần lễ ông thảo luận với họ, dựa vào Kinh Thánh, ông giải thích và xác định rằng Đấng Ki-tô phải chịu khổ h́nh và sống lại từ cơi chết" (CVTĐ 17:2-3). - "Và từ thời thơ ấu, anh đă biết Sách Thánh, sách có thể dạy anh nên người khôn ngoan để được ơn cứu độ, nhờ ḷng tin vào Đức Ki-tô Giê-su" (2 Tim 3:15). Trong thế kỷ thứ nhất các tông đồ và phụ tá viết các sách Tân Ước, và truyền lại cho các thế hệ Kitô Hữu sau này và được đọc trong các nơi phụng tự. Trong thế kỷ thứ hai và thứ ba, các người lạc giáo Gnostic bắt đầu chế ra các văn bản mà họ cho rằng xuất phát từ các tông đồ, nhưng v́ các bản văn ấy không được lưu truyền trong các giáo đoàn ngay tự đầu, nên bị tẩy chay. Để phản ứng với các văn bản mới và sai lầm này các giáo đoàn thành lập danh sách các cuốn đích thật được trao truyền từ các tông đồ. Một danh sách nổi tiếng về các bản văn thánh được thành h́nh từ giữa thế kỷ thứ hai gọi là Chính Lục Muratori. Tiến tŕnh mà bộ Kinh Thánh được h́nh thành phần lớn hoàn tất vào thời Constantine (đầu thế kỷ thứ tư), và hoàng đế này không góp phần ǵ cả. Có một vài cuốn Cựu Ước (ngày nay gọi là ngụy thư) vẫn tiếp tục được thảo luận vào thời Constantine, cho đến cuối thế kỷ thứ tư-điều này cho thấy thêm là hoàng đế không tổng hợp bộ Kinh Thánh. Không một học giả Kinh Thánh nào cho rằng Constantine đóng một vai tṛ quan trọng trong việc h́nh thành Thánh Kinh. Dan Brown hoàn toàn sai lầm. 16. Cuốn The Da Vinci Code nói ǵ về việc Giáo Hội tiên khởi xác nhận thiên tính của Đức Kitô? Đề cập đến Công Đồng đầu tiên là Nicaea, được triệu tập năm 325, cuốn The Da Vinci Code viết: Cho đến thời gian đó trong lịch sử, Đức Giêsu được các môn đệ coi như một ngôn sứ phải chết... một người vĩ đại và có quyền phép, nhưng chỉ là một con người... Bởi xác nhận Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, Constantine đă biến Đức Giêsu thành một vị thần. Đúng là Constantine chủ tọa Công Đồng Nicaea, nhưng không đúng là Constantine "biến Đức Giêsu thành một vị thần" hoặc cho rằng Kitô Hữu không coi Đức Giêsu như một Thiên Chúa trước khi có biến cố này. Constantine đă triệu tập Công Đồng để giải quyết một tranh chấp được xảy ra khi một linh mục người Ai Cập tên là Arius từ chối thiên tính của Đức Giêsu, gây nên xôn xao trong dư luận ông v́ chối bỏ điều mà các Kitô Hữu ở khắp nơi tin như vậy. Arius được một số người ủng hộ và sự tranh luận giữa phe Arius với Kitô Hữu truyền thống gia tăng mănh liệt đến độ hoàng đế Constantine phải triệu tập Công Đồng để giải quyết vấn đề. Về cá nhân, Constantine có vẻ hỗ trợ lập trường của phe Arius, nhưng ông công nhận thẩm quyền của các giám mục khi phát biểu một cách hùng hồn về đức tin Kitô Giáo, và các giám mục trong Công Đồng đă tái xác nhận giáo huấn truyền thống của Kitô Giáo khi tin rằng Đức Giêsu thực sự là Thiên Chúa. Như vậy chính các giám mục của Công Đồng Nicaea là người tái xác nhận lập trường cố hữu của Kitô Giáo chống với phe Arius. Constantine xác nhận là các giám mục có quyền làm như vậy bất kể rằng chính ông mong muốn một kết quả khác hơn. 17. Đâu là chứng cớ việc Kitô Hữu coi Đức Kitô là Thiên Chúa trước khi có Công Đồng Nicaea? Thiên tính của Đức Kitô được nhấn mạnh nhiều lần trong Tân Ước. Thí dụ, chúng ta được biết rằng các địch thủ của Đức Giêsu t́m cách giết Người v́ Người "gọi Thiên Chúa là Cha, coi ḿnh ngang hàng với Thiên Chúa" (Gioan 5:18). Khi bị bắt bẻ là làm sao Người biết rơ về ông Abraham, Đức Giêsu trả lời: "Thật, tôi bảo thật các ông, trước khi có Abraham th́ tôi hiện hữu [I AM]" (Gioan 8:58), Người đă gợi lại và áp dụng cho chính ḿnh tên riêng của Thiên Chúa-"Đấng Tự Hữu" (I AM) (Xh 3:14). Đám đông hiểu Người muốn nói ǵ, "Bởi vậy họ lấy đá ném Người; nhưng Đức Giêsu lẩn tránh và ra khỏi đền thờ"(Gioan 8:59). Trong Gioan 20:28, ông Tôma phủ phục dưới chân Đức Giêsu, kêu lên, "Lậy Chúa, lậy Thiên Chúa của con!" Và Thánh Phaolô cho chúng ta biết rằng Đức Giêsu đă được chọn để sinh ra trong một h́nh thể khiêm tốn của loài người dù rằng Người vẫn có thể trong sự vinh hiển với Chúa Cha, v́ Người "trong h́nh thể Thiên Chúa" (Phil 2:6). 18. Cuốn The Da Vinci Code nói ǵ về sự tương giao giữa Đức Giêsu và bà Maria Mađalêna? Tiểu thuyết này cho rằng hai người kết hôn với nhau. Thật vậy, nó nói rằng Đức Giêsu làm cho bà Maria Mađalêna mang bầu, và cả hai có được đứa con gái. Cuốn sách khẳng định: Maria Mađalên có thai vào lúc bị đóng đinh trên thập giá. V́ sự an toàn của đứa con sắp sinh của Đức Kitô, bà không c̣n cách ǵ hơn là trốn khỏi Đất Thánh... Chính ở nước Pháp mà bà sinh đứa con gái. Tên nó là Sarah. Sau này cuốn sách cho rằng sự kết hợp ấy đă làm phát sinh một ḍng máu mà vẫn lưu truyền đến ngày nay trong các gia đ́nh quyền thế ở Âu Châu (có cả một trong các nhân vật chính của tiểu thuyết, là Sophie Neveu). Sách cũng cho rằng Giáo Hội Công Giáo biết điều này và che đậy trong nhiều thế kỷ, ngay cả dùng đến việc giết hại các hậu duệ của Đức Kitô để bảo vệ bí mật ấy: Đây... sự che đậy lớn lao nhất trong lịch sử nhân loại. Không chỉ có việc Đức Giêsu Kitô kết hôn, mà Người c̣n là một người cha... Giáo Hội tiên khởi sợ rằng nếu ḍng dơi này được phép phát triển, sự bí mật giữa Đức Giêsu và Maria Mađalêna sẽ bị lộ tẩy và đặt vấn đề với học thuyết nền tảng Kitô Giáo--đó là Đấng Thiên Sai không giao du thân mật với phụ nữ hay tham dự trong một kết hợp t́nh dục... 19. Bạn trả lời thế nào về các điều cáo buộc này? Đó là sự vô trách nhiệm và xúc phạm khi Dan Brown tấn công đức tin của biết bao người Công Giáo theo kiểu cách này. Ông ta không có chứng cớ chắc chắn để hỗ trợ cho những tranh luận ấy, và khi thiếu các chứng cớ như vậy th́ không thể chấp nhận được việc bôi nhọ đức tin của hàng triệu người với các cáo buộc như vậy. Một sự bôi nhọ tương tự khi nói rằng người Luther đă giết các hậu duệ của ông Luther hay các vị lănh đạo Do Thái đă giết các hậu duệ của ông Môsê. Nếu các cáo buộc ấy được đưa ra, nhất là không có chứng cớ, ngay lập tức chúng sẽ được coi như các vu khống đầy ác ư và mù quáng đối với những người coi đó là thánh thiêng. Cho rằng người Công Giáo đă giết các hậu duệ của Đức Giêsu là một tấn công hèn hạ và không thể chấp nhận được đối với đức tin của họ. Người có đức tin phải coi Dan Brown như một con người mù quáng đầy ác ư khi đưa ra loại cáo buộc đó. 20. Người ta phải nghĩ ǵ về luận điệu của The Da Vinci Code khi cho rằng Đức Giêsu kết hôn với bà Maria Mađalêna? Không thể nào coi luận điệu ấy một cách nghiêm trọng. Lư do mà ông Brown cùng với nhiều người khác (hầu hết là các tác giả New Age) t́m cách coi Maria Mađalêna như vợ của Đức Giêsu th́ hiển nhiên: Bà là một trong vài phụ nữ theo Đức Kitô và được nổi bật, tên của bà được biết, và chúng ta không biết bà có kết hôn với ai không. Các phụ nữ khác theo Đức Giêsu đều được biết là đă kết hôn (thí dụ, bà Gioanna vợ của ông Chusa [Luca 8:3] hoặc không quá quan trọng ("bà Maria khác" [Mt. 28:1]) hoặc chúng ta không biết tên của họ (bà Syro-Phoenici [Mt. 15:28]). Nếu ai đó muốn buộc Đức Giêsu vào vai tṛ kết hôn, bà Maria Mađalêna phải là một trong vài phụ nữ nổi bật và sẵn sàng bị đẩy vào vai tṛ làm vợ của Đức Giêsu. Hơn thế nữa, không có điểm ǵ trong Tân Ước xác định hay ám chỉ rằng Đức Giêsu kết hôn với bà Maria Mađalêna. Theo Tân Ước, bà là người đạo đức đi theo Đức Kitô và là một trong những người đầu tiên chứng kiến sự Phục Sinh của Người (x. Mt. 28:1), nhưng không phải là vợ. Không có chứng cớ ǵ trong Tân Ước hay các văn bản của các Giáo Phụ cho rằng bà kết hôn với Đức Giêsu. Đức Giêsu c̣n nói những điều cho thấy rằng Người không kết hôn với ai. Người giải thích rằng một số người tự ư không kết hôn để có thể trọn vẹn tận hiến cho Thiên Chúa. Người nói rằng họ "tự ư là hoạn nhân v́ Nước Trời" (Mt 19:12). Người tŕnh bầy sự tự ư không kết hôn như h́nh thức cao nhất của việc tận hiến, và là vị lănh đạo tinh thần của Kitô Giáo, khi đưa ra một chuẩn mực như thế mà chính ḿnh th́ không giữ được th́ đó là điều kỳ lạ. Hơn thế nữa, Giáo Hội tiên khởi đồng ḷng coi Đức Giêsu là người không kết hôn. Đây không phải là một học thuyết sau này của các Giáo Phụ nhưng là điều được t́m thấy trong chính Tân Ước. Các tác giả Tân Ước thường miêu tả Giáo Hội như "nàng dâu của Đức Kitô" (2 Cor. 11:2; Eph 5:21-33; Kh 21:9-10). Điều ẩn dụ này sẽ không bao giờ thành h́nh nếu có một "bà Giêsu" bằng xương thịt đang sống đâu đó. Chỉ khi Đức Kitô độc thân th́ Giáo Hội mới được miêu tả một cách ẩn dụ là nàng dâu của Người. 21. Dan Brown nói ǵ về vai tṛ của bà Maria Mađalêna trong Giáo Hội tiên khởi? Brown khẳng định rằng trong các Phúc Âm nguyên thủy, bà Maria Mađalêna chứ không phải ông Phêrô được lệnh thành lập Giáo Hội: Theo các phúc âm không bị biến đổi, ông Phêrô không phải là người được Đức Kitô ra lệnh thiết lập Giáo Hội Kitô Giáo. Chính là bà Maria Mađalêna... Đức Giêsu là người bênh vực quyền phụ nữ chính gốc. Cũng không có căn bản ǵ cho luận điệu này. Không có một văn bản nào của Phúc Âm hay bất cứ trích dẫn ǵ trong Phúc Âm của các tài liệu Giáo Hội tiên khởi của các Giáo Phụ cho thấy điều này được nói ở bất cứ giai đoạn nào trong lịch sử h́nh thành các Phúc Âm. Viện dẫn đến các phúc âm "không bị biến đổi" bởi Constantine hay các người khác thời Giáo Hội tiên khởi là một điều ngờ nghệch. Không có chứng cớ ǵ là Constantine đă ra lệnh thay đổi bất cứ bản Kinh Thánh nào. Nếu ai đó muốn cho rằng ông ta đă ra lệnh như vậy, họ phải có thể hỗ trợ điều đó bằng cách kể ra một nguồn tài liệu đương thời, nhưng không có thể t́m thấy một câu nào như vậy. Không có một tài liệu nào c̣n sót lại trong thời kỳ đó-hay ngay cả các tài liệu của các thế kỷ sau-ghi nhận là Constantine hay ai đó muốn thay đổi văn bản của học thuyết này. Ông Brown tuyệt nhiên không có chứng cớ để hỗ trợ cho luận điệu này. Nếu Constantine hay ai đó cố gắng thay đổi Kinh Thánh, người tín hữu Kitô chắc chắn phải từ chối. Giáo Hội Kitô đă từng trải qua một thời kỳ bách hại mà trong đó Kitô Hữu bị thiêu sống v́ không chịu khước từ Thiên Chúa và Kinh Thánh mà Người đă ban cho họ. Để cho các văn bản này bị cắt xén là điều không thể tưởng được, và bất cứ toan tính nào muốn thay đổi sẽ tạo nên cuộc tranh luận lớn lao đến độ phải được nhắc đến trong các văn bản của thời đó. Sẽ là một điều không thực tế để thay đổi Kinh Thánh, v́ hàng ngàn cuốn đă hiện diện trên toàn thế giới Địa Trung Hải, từ Âu Châu cho đến Bắc Phi Châu. V́ không có một trung tâm đăng kư để biết những ai có sách Phúc Âm, do đó không cách chi để theo dơi và thay đổi được. Tuyệt nhiên là có quá nhiều ấn bản đang lưu hành.
BÀI 3 : C̉N G̀ ĐỂ QUÍ MẾN Đinh Vinh Phúc, Paris.
Cuốn sách Da Vinci Code và cuốn phim mới ra làm náo động dư luận. Tôi không muốn đọc sách và xem phim đó, một phần v́ không muốn ùa theo trào lưu, một phần v́ tất cả những ǵ dính dáng đến luận đ́ệu phủ nhận Chúa Cứu Thế đă quen thuộc với tôi từ lâu. Dưới đây tôi chỉ nói qua về khía cạnh văn hóa và chính trị liên hệ đến định mệnh của người Tây phương nhân dịp các cuộc tranh luận về Jésus Christ (viết tắt, J.C.)
Chữ Jésus là tên một nhân vật lịch sử, Jésus de Nazareth, đọc theo tiếng Hy Lạp, Isu. C̣n chữ Christ lấy từ Christos, dịch ra từ tiếng Do Thái, có nghĩa là Le Messie, đấng Cứu Tinh, đấng Cứu Thế, Đấng Cứu Chuộc, đồng nghĩa với chữ Le Sauveur, Le Rédempteur ( như cụm từ các Cha Ḍng Chúa Cứu Thế, les Pères Rédemptoristes, ở Sài g̣n, Huế, và Hà nội). Nhưng ở VN từ mấy chục năm nay chữ Christos được phiên âm là Kitô. Người VN nghe không hiểu ǵ hết. Huống chi lại dùng chữ « Đức Kitô « th́ lại hàm hồ hơn nữa, v́ chữ Christos, trong thánh kính có nghĩa là Chúa, le Seigneur, nay nói theo người Pháp, Notre Seigneur. Người Do Thái không có nh́n nhận Jésus là Christos.
Người Việt khi viết sử ngày nay thường dùng cụm từ « trước hay sau công nguyên «, nhưng sự thực là trước hoặc sau J.C. Nói cách khác nhân vật lịch sử J.C. quen thuộc với người Việt, dưới một h́nh thức nào đó. Cũng như sự xuất hiện cách chia ngày tháng thành hàng tuần là lấy từ Thánh Kinh.
Chữ « le christianisme «, tiếng Việt gọi là Đạo Thiên Chúa, nói tắt là Đạo Chúa (cũng giống như Đạo Phật, Đạo Khổng). C̣n chữ « Công Giáo « là chỉ một confession, Giáo Hội La Mă, để phân biệt với các giáo hội Tin Lành và Giáo Hội Chính thống, một phần nào cũng giống như Đại Thừa , Tiểu Thừa, tức là các tông trong thế giới Phật Giáo.
Đạo Chúa tức là Đạo do J.C. sáng lập. Nên phân biệt khía cạnh lịch sử, với khía cạnh giáo lư (cũng gọi là thần học, la théologie, danh từ này do Aristode tạo ra, chữ thần ở đây là les dieux, số nhiều, nhưng ngày nay thường có nghĩa Dieu, số ít, theo thánh kinh). Về lịch sử, những đệ tử của J.C. tường thuật cuộc đời của ngài theo cách nh́n của người Do Thái : J.C. là vị Cứu Tinh, sẽ cứu Iraël khỏi ách thống trị La Mă, và sẽ mở đầu một kỷ nguyên mới. Nhưng năm 70, quân Roma b́nh địa thành Jérusalem, ư tuởng tái lập chủ quyền quốc gia không c̣n chỗ đứng cho đến giữa thế kỷ 20. Vậy ư tưởng Le Christos từ đó hoàn toàn có ư nghĩa thiêng liêng, liên hệ đến cả nhân loại. J.C. được tŕnh bày là con Đức Chúa Trời, với hai đặc ân : sinh ra từ ơn Chúa trong ḷng Maria (tức là Đức Bà như nhà thờ Đức Bà ở Sài G̣n, Đức Mẹ, Đức Trinh Nữ , La Sainte Vierge), và sau khi tử nạn, được sống lại ( như ngày lễ Phục Sinh). Kinh Thánh nói như vậy, nhưng đối với các nhà sử học như Renan, th́ dĩ nhiên những đặc ân đó chỉ là thuộc ḷng tin tôn giáo, ngoài thẩm quyền của sử học. Từ thời sáng lập, vẫn có những người t́m cách cắt nghĩa sự việc theo lịch sử tự nhiên.
Có ba cách lư giải có tính cách phủ nhận đạo Chúa :
- Một là Thánh Kinh không nói rơ sực thực : Bà Maria có lẽ có mối t́nh với ai đó, hay bị hăm hiếp trước khi về nhà chồng, tên là Joseph, mà Thánh Kinh tŕnh bày là cha nuôi của J.C. C̣n sự kiện J.C. hồi sinh là nguỵ tạo v́ thực ra JC không chết trên cây thập tự, và được các đệ tử đem sang Ần Độ, hay nơi nào ẩn dật để sống đến già. Biết đâu ngày nào người ta t́m ra một ḥm xương với hai chữ J.C…
- Hai là Thánh Kinh miêu tả JC một cách sai lạc. Nhân vật này thực ra chỉ là một người b́nh thường, đặc biệt có cuộc đời t́nh ái như ai, hay thuộc loại homosexuel… Cái ư tưởng một nhà tu sống độc thân cho tới khi chết, lúc 33 tuổi, là cái ǵ vô lư lắm với một số văn sĩ người Tây Phương ngày nay. Thành ra các văn sĩ này dùng tưởng tượng giầu có để lư giải Thánh Kinh hay lịch sử. Đó là trường hợp của Dan Brown.
-Ba là Thánh Kinh có một mầu sắc ư thức hệ. Sau khi J.C. mất, các đệ tử, tất cả là người Do Thái, tưởng tượng ra nhân vật được gọi là Christos, gán cho nhân vật ư tưởng muốn sáng lập một tôn giáo mới, đoạn tuyệt với truyền thống Do Thái.
Từ 2000 năm nay, các cuộc bút chiến đại khái theo ba khuynh hướng đó, không kể các tranh luận trong nội bộ của cộng đồng tín hữu thời đạo được sáng lập, từ khi các tín điều phải đối phó với triết học Hy Lạp (tức là ra ngoài thế giới sử học). Con Đức Chúa Trời là ai? Là Thiên Chúa mặc thân xác con người như bộ áo, hay cũng là một con người thực thụ ? Kể từ 325 (Công Đồng Nicée) đến nay, cộng đồng tín hữu đều nh́n nhận J.C. vừa là Thiên Chúa và là con người, vrai Dieu et vrai homme. Đây là vấn đề giáo lư, mà các dân trí thức quen thuộc với Aristode từ thời Trung Cổ t́m cách điều ḥa, giữa Lư trí và Đức Tin (La Raison et la Foi), bằng định luật : Phải tin để hiểu : il faut croire pour comprendre. Đối với Feuerbach, ông thầy của K.Marx, th́ dĩ nhiên các tín điều về J.C. thực là ngộ nghĩnh. Nói chi đến quan điểm của giới triết học : cụm từ « Con Đức Chúa Trời « động đến ư niệm Chúa Trời, Dieu, là một đề tài chưa bao giờ gặp sự đồng thuận của triết học. Nói cách dung hoà kiểu Umberto : không chứng minh được có Thiên Chúa không có nghiă là Thiên Chúa không thể có. Ai đă học triết học đều quen với cách lư luận của Descartes và của Kant về đề tài nay.
C̣n với người Á đông, các tranh luận về Thiên Chúa trong giới Phật Học VN chẳng hạn là một chuyện b́nh thường, là v́ phật học không có đặt vấn đề Thượng Đế như bên Thiên Chúa Giáo. Sự thức đạo Chúa không xây dựng trên một nền tảng triết học. Người VN hiểu vấn đề này hơn nguời Tây phương, v́ ta có danh từ « Đạo « tức là đường đi, khác với chữ religion của người Tây. Không ai trông thấy và miêu tả được Thiên Chúa, vậy « Con Thiên Chúa « là đấng đưa ta tới Thiên Chúa. Mục đích đạo là huớng dấn mỗi một người trong cuộc sống ngắn ngủi, chớ không phải là một triết lư đặt vấn đề nhân loại. Gandhi và Tagore nh́n J.C. như một thiên sứ, mà cuộc đời và lời nói đều huớng về tha nhân. Đạo và đời trong cách nh́n đó dễ thông cảm với nhau, hơn là hoàn cảnh chính trị và trí thức bên Âu Châu.
Người Tây phương đă từ lâu có khuynh hướng chống tôn giáo. Đạo Chúa bên trời Âu một phần dựa vào kinh điển Do Thái và ư niệm xây một xă hội chính trị dưới h́nh thức một monarchie de droit divin. Khi phong trào cách mạng Pháp nổi dậy, từ từ phái thiên tả cảm thấy là muốn tiêu diệt nhà vua th́ cũng phải phá huỷ tôn giáo. Bên Nga với Lénine cũng vậy. Đó là không kể các vấn đề gọi là éthique : thí dụ phá thai, đồng t́nh luyến ái, mà các đảng xă hội muốn cổ vơ, và như vậy luật pháp phải ra ngoài ảnh hưởng tôn giáo.
Nhưng người ta tự hỏi các va chạm đó có là bao mà tiếp tục đả phá tôn giáo (trong cụ thể, đả phá Thiên Chúa Giáo), vào lúc toàn cầu hóa ? Đảng Xă hội bên Ư muốn thành phố Rome trở thành kinh đô các tôn giáo, nghĩa là cho Hồi Giáo nữa, và muốn Âu Châu mở cửa đón nhận Thổ Nhĩ Kỳ để Hồi Giáo cạnh tranh với đạo Thiên Chúa. Nhưng đó có phải là một chọn lựa sáng suốt không ? Nếu 20% hay 30% dân số trong Liên Hiệp Âu Châu là người Hồi Giáo th́ nền văn hóa cổ truyền Âu Châu sẽ thế nào ? Có nên tiếp tục chống đối đạo Thiên Chúa nữa không ? Câu hỏi đó cho đến nay không mấy ai đưa ra. Và dư luận đón tiếp cuốn Da Vinci Code một cách thản nhiên, mà không đặt cái enjeu to lớn : sự tồn tại của nền văn minh Tây phương. Nếu Gandhi và Tagore c̣n sống, không rơ ai nhà lănh đạo Ần Độ này nghĩ ǵ về cuốn sách mà ảnh hưởng của nó trước sau chỉ có thể làm thiệt hại đến nền tảng thiêng liêng của người Tây Phương. Nếu dư luận bên trời Tây không c̣n giữ được ḷng kính trọng đối với một giá trị thiêng liêng tuyệt vời được thể hiện trong đời sống của J.C. và cả một gia tài văn hóa từ 2000 năm đến nay, th́ c̣n có ǵ để người Tây phuơng giữ ǵn, quư mến nữa ?
BÀI 4 : VẠCH TRẦN VÀ TẨY CHAY THE DA VINCI CODE Linh Giao
Chia sẻ của Lm Bùi Quang Tuấn trên đài Mẹ Hằng Cứu Giúp về phim Mật Mă của Da Vinci (Nguồn: thanhlinh.net)
1- Lời Mở đầu
Ngày 16-3-2005, trong một cuộc phỏng vấn của tờ nhật báo “Il Giornale” tại Milan, Đức Hồng Y Tarcisio Bertone, Tổng Giám mục Genoa, một giới chức công giáo ở phẩm trật cao cấp trong Giáo hội tại Vatican đă lên tiếng về cuốn tiểu thuyết của Dan Brown, The Da Vinci Code, ‘nhằm gạt bỏ Giáo Hội và lịch sử Giáo Hội bằng cách tung ra những điều bẩn thỉu phi lư.” Sau khi đưa ra một số nhận định độc hại kinh hoàng của cuốn sách đối với Giáo hội và niềm tin đại chúng, ngài can đảm đứng lên tuyên chiến bằng cách hô hào tẩy chay không mua sách này: “Lời dụ dỗ quan trọng hay tệ hại nhất, ấy là gợi ư rằng người ta không thể làm một người của thời đại nếu chưa đọc cuốn ‘Da Vinci Code’. Từ đó, cái khẩu hiệu được tung ra trong các trường học, ấy là cần phải đ̔ |