MỤC VỤ VĂN HÓA - NGHỆ THUẬT - GIÁO DỤC

________________________________________________ 

Trang chủ    Tổng quan sinh hoạt      Tin tức mục vụ      Tin nhắn đặc biệt      Chia sẻ Lời Chúa      Nối kết website

NỘI DUNG

TIN TỨC SINH HOẠT MỤC VỤ VĂN HÓA

(BẢN TIN CHI TIẾT)

GIẢI BÁO TƯỜNG ANRÊ PHÚ YÊN
TỌA ĐÀM VĂN HỌC NGHỆ THUẬT ANRÊ PHÚ YÊN
LINH MỤC THI SĨ NGUYỄN XUÂN VĂN
TỔNG HỢP VỀ "MẬT MĂ DA VINCI"
BÀI CHIA SẺ VỀ VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CÔNG GIÁO (Trăng thập Tự)
H̀NH ẢNH ĐÊM THƠ TRĂNG THẬP TỰ (16.05.2006) TẠI HOA VIÊN HIỆP NHẤT
GIẢI THƯỞNG VĂN HÓA ĐỨC TIN NGUYỄN XUÂN VĂN LẦN I
TRANG THƠ CÔNG GIÁO
GIỚI THIỆU DANH NHÂN CÔNG GIÁO QUI NHƠN
GIẢI THƯỞNG VĂN HÓA - ĐỨC TIN NGUYỄN XUÂN VĂN LẦN THỨ I
GIẢI THƯỞNG VĂN HÓA-ĐỨC TIN NGUYỄN XUÂN VĂN LẦN II

PHƯƠNG ÁN MỤC VỤ 2008

TRANG MỤC VỤ CHUYÊN BIỆT

 

 

TỌA ĐÀM VĂN HỌC

NGUYỄN XUÂN VĂN, NHÀ THƠ LỤC BÁT CHUẨN MỰC

XIN XEM H̀NH ẢNH

NỘI DUNG TỌA ĐÀM

Ngày 10.01.2007 (Thứ Tư) :

 

- 07.00 giờ : Chuông báo tập trung

- 07.30 giờ : Đón tiếp quí khách tại Trung Tâm Mục vụ

- 08.00 giờ : Tọa đàm về Thi sĩ LM. Nguyễn Xuân Văn.

v     Giới thiệu khách mời và nội dung chương tŕnh

v     LM Chánh xứ xướng kinh Chúa Thánh Thần và phát biểu khai mạc.

v     Ca đoàn GXTH hợp ca bài “Đây Phút Sống”

v     Tham luận chính : BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ TÁC PHẨM "SỨ ĐIỆP T̀NH THƯƠNG" CỦA NGUYỄN XUÂN VĂN (BS. ĐOÀN Xuân Dũng)

v     Diễn ngâm : Đức Mẹ khóc Con (SĐTT, 9093-9120)

v    Tham luận 3 : Từ Tin Mừng đến Sứ Điệp T́nh Thương (LM. Nguyễn Văn Bản)

v     Tốp ca : Mừng Sinh Nhật Mẹ (Lời : Xuân Văn, Nhạc : Sơn Ca Linh – CĐ Sinh Nhật Mẹ tŕnh bày)

v    Chia sẻ của Khách mời :

-         Nhà thơ Đ́nh Bảng : Sứ Điệp T́nh Thương trên lộ tŕnh Hội Nhập Văn Hóa.

-         Nhà văn Nguyên Đạt : Nhà thơ và mục tử

- 09.45 : Linh mục Chánh xứ cám ơn

          Cộng đoàn đồng ca bài Nơi Tôn Nhan.

Bế mạc tọa đàm và chuẩn bị vào Thánh lễ.

          ___________________________________

 

- 10.00 giờ : Thánh lễ Đồng tế

- 11.30 giờ : Cơm trưa (Hội trường B1 TTMV).

 

LỜI DẪN NHẬP

__________________________________________ 

LM. Giuse Trương Đ́nh Hiền

 

            Kính thưa quư vị,

            Chúng ta đang hiện diện nơi đây, phải chăng là để hướng về, để tưởng niệm, để qui tụ chung quanh một người thân đă khuất, Cha F.X. Nguyễn Xuân Văn, một thi hào và một mục tử. V́ thuộc thế hệ, học tṛ, và rất giới hạn trong lănh vực văn học chuyên môn, nhất là lănh vực thi ca, nên tôi chỉ có thể nh́n về Cha Văn với lăng kính của một học tṛ ngưỡng mộ thầy, của một giáo dân kính phục Cha sở, sự ngưỡng mộ mà có lần, chúng ta đă mượn một thành ngữ cổ để diễn tả cuộc đời và sự nghiệp của Cha Văn, qua hai từ Hán ngữ  “XUÂN – VĂN” :

XUÂN ĐÀI THỌ VỰC

VĂN THÁI PHONG LƯU

“Xuân đài thọ vực” : có nghĩa một cuộc đời an nhàn thư thái, sống lâu mà vẫn an nhàn đẹp tươi (Thành ngữ điển tích của Diên Hương trang 69)

“Văn thái phong lưu” : Có nghĩa cái màu vẽ của văn chương, truyền bá đến đời sau như gió bay xa, như nước chảy tràn (Hán-Việt tự điển của Đào Duy Anh, trang 538).

            Tuy nhiên, do cái “hữu duyên thiên lư ngộ” mà Thiên Chúa đă quan pḥng không biết tự lúc nào, tôi và Nhà Thơ linh mục Nguyễn Xuân Văn lại được sống gần nhau trong một bối cảnh xă hội đặc biệt (Xă hội Việt nam những năm sau biến cố 1975), tại một môi trường mục vụ đặc biệt (giáo xứ Mằng Lăng, quê hương của Á Thánh Anrê Phú Yên) ; và nhất là, ở vào một thời điểm, vị linh mục thi sĩ tài hoa nầy đă thai nghén, rồi chắp bút thực hiện đại thi phẩm “SỨ ĐIỆP T̀NH THƯƠNG”, một kiệt tác thi ca lục bát có một không hai trên thi đàn Việt nam, xét về lượng (với 9764 câu thơ) cũng như về phẩm.

            Để đánh giá tổng quát về con người tác giả, và đặc biệt, về tác phẩm “SỨ ĐIỆP T̀NH THƯƠNG” sau khi Ngài ra đi về cơi vĩnh hằng, quả thật, thời gian 5 năm chưa phải là đủ chín mùi để thấy hết mọi góc cạnh và những giá trị tế vi, mà tự bản chất, tác phẩm thi ca nào cũng đ̣i phải có thời gian nhất định để cảm nghiệm và thẩm thấu.

            Dĩ nhiên, để hiểu, để cảm được những vần thơ lục bát mượt mà của “Sứ Điệp T́nh Thương”, không nhất thiết chúng ta phải trăi rộng tâm hồn trong cái lăng mạn, mông lung của thế giới lung linh mộng ảo của thi sĩ Hàn Mặc Tử :

“Hiểu ǵ không ư nghĩa của trời thơ

Của hương hoa trong trăng lờn lợt bẩy,

Của lời câm muôn v́ sao áy náy,

Hiểu ǵ không em hỡi, hiểu ǵ không ?

Anh ngâm nga để mở rộng cửa ḷng

Cho trăng xuân tràn trề say chới với

Cho nắng hường vấn vương muôn ngàn sợi,

Cho em buồn, trời đất ứa sương khuya”[1]

                                                            (Trường tương tư)

            Bởi vị mục đích của thi sĩ Nguyễn Xuân văn khi chắp bút diễn đạt Tin Mừng qua dáng đứng Việt nam với thể thơ lục bát, cốt yếu là :

“Tôi muốn đem Lời Chúa

Lời thơ t́nh thương

Ghép thành vần

Đặt lên miệng các bà mẹ

Để từ đó,

Chảy vào tai các em bé…

Và cũng để :

“… Lời Chúa,

đến với các bạn

với những kẻ khó nhọc và gánh nặng

Những người mất niềm tin

Mất hy vọng trên cơi đời nầy.[2]

            Tuy nhiên, cho dù với mục tiêu mang chiều kích đạo đức truyền thống của nhà đạo, th́ Sứ điệp T́nh Thương vẫn là một kiệt tác về thơ lục bát với một vị trí đặc biệt như lời nhận xét của nhà thơ Đ́nh Bảng :

“Nhưng để gọi là diễn ca Phúc Âm bằng thơ lục bát Việt Nam ở mức độ nghệ thuật, có lẽ duy chỉ một ḿnh Nguyễn Xuân Văn xứng đáng chiếm giải khôi nguyên. Ông ngồi riêng một chiếu, chiếc chiếu cạp điều, được dệt bằng cây cói thơm mùi hương dầu của biển, của đất, của người Phú Yên nầy.”[3]

            Nhà thơ Đ́nh bảng c̣n nhận xét tiếp :

“Tôi nói đến 9764 câu thơ lục bát của SĐTT v́ chúng đă ở trên đỉnh cao có thể ngang tầm với ca dao, đồng dao và những nhà thơ phù thuỷ về lục bát như Nguyễn Du, Tản Đà, Huy Cận, Nguyễn Bính. Đây là một trường hợp đặc biệt nhất trong cơi thi ca nhà đạo ḿnh…

“Hơn nữa, cái hay, cái đẹp, cái giá trị của SĐTT không chỉ ở câu chữ, ở độ dày, ở chiều dài gần gấp ba lần Truyện Kiều, mà c̣n ở cái thần, cái hứng, cái ư, cái tứ làm nên hồn vía phảng phất, bàng bạc hoặc sâu lắng ở đằng sau, ẩn sâu bên trong những con chữ, những vần điệu kia. Đúng như nỗi khát khao cháy bỏng của tác giả Nguyễn Xuân Văn gửi gắm rất nhiều trong SĐTT là dùng thi ca, thơ lục bát để trao gởi lời Chúa đến mỗi người. Chẳng phải chuyện tầm phào, trà dư tửu hậu của thế nhân thường t́nh, mà là chở đạo đến chổ nước sâu, xa bờ, xa khơi, mong cho thuyền đầy cá”[4]

Và như thế, cuộc gặp gỡ hôm nay, chẳng ngoài mục đích, để chúng ta có cơ hội một lần nữa đọc lại Sứ Điệp T́nh Thương trong sự đồng cảm cùng cố thi hào Nguyễn Xuân Văn ; đồng thời, như một biểu lộ của niềm tri ân hiếu thảo của thế hệ học tṛ, cháu con, trước “cây đại thụ” của nền văn học Công Giáo, chúng ta sẽ cùng với nhà nghiên cứu Đoàn Xuân Dũng mạo muội t́m kiếm những “hạt ngọc văn chương” tiềm tàng trong thi phẩm lục bát chuẩn mực nầy. Chắc chắn, với không khí thân mật của t́nh hiệp thông trong gia đ́nh con cái Chúa, chúng ta lại được linh mục Nguyễn Văn Bản, người học tṛ đă từng kề cận bên cố linh mục Nguyễn Xuân Văn suốt mười mấy năm trời, chia sẻ với chúng ta những cảm nghiệm riêng của Cha đối với Cha Văn và Sứ Điệp T́nh Thương. Rồi chúng ta lại được, một lần nữa, nghe lại giọng nói cách đây 4 năm của thi sĩ Đ́nh Bảng, nhà thơ có duyên nợ đặc biệt với Cha Văn, với mảnh đất Tuy Ḥa-Phú Yên, nhất là, có một thao thức khôn nguôi trong nỗ lực hội nhập văn hóa của Hội Thánh Việt Nam hôm nay và tương lai. Sau hết, chúng ta sẽ dành những tâm t́nh thân thương hiếu thảo của con chiên đối với vị Cha già đă khuất qua những tâm sự của nhà văn Nguyên Đạt, như những nén hương ḷng trong ngày chạp giỗ năm năm cố linh mục thi sĩ Nguyễn Xuân Văn.

Trong tất cả những ư nghĩa đó, tôi tuyên bố khai mạc buổi tọa đàm mang chủ đề :

LINH MỤC THI SĨ NGUYỄN XUÂN VĂN,

NHÀ THƠ LỤC BÁT CHUẨN MỰC

Và để mở đầu cho buổi tọa đàm nầy, xin mời tất cả cùng với ca đoàn giáo xứ Tuy Ḥa hát lên bài ca “Đây phút sống”, bài ca do chính cố linh mục F.X. Nguyễn Xuân Văn chắp bút viết lời cách đây trên nửa thế kỷ với bút hiệu Văn Thao.

 

 

BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ

TÁC PHẨM SỨ ĐIỆP T̀NH THƯƠNG

CỦA LINH MỤC NGUYỄN XUÂN VĂN

______________________________________________________ 

Giacôbê Đoàn Xuân Dũng

Giáo xứ Phước Hải, Giáo phận Nha Trang

           

 

Lời ngỏ

 

          Kính thưa Cha chánh xứ, hạt trưởng hạt Tuy Hoà.

          Kính thưa Quí Cha, Quí Sơ.

          Kính thưa các Thi sĩ, Văn sĩ và Nhạc sĩ.

          Kính thưa Hội đồng giáo xứ Tuy Hoà.

          Kính thưa Ban tổ chức.

          Kính thưa tất cả cộng đoàn Dân Chúa đang có mặt hôm nay.

                   Trước hết con xin cám ơn tất cả đă dành cho con sự ưu ái này. Con thật bất ngờ, khi được Cha hạt trưởng mời đóng góp một chút ǵ đó, trong buổi tọa đàm lễ giỗ giáp 5 năm của Cố LM thi sĩ Nguyễn Xuân Văn.

                  V́ phải chạy với công việc và thời gian, nên việc tŕnh bày của con hôm nay sẽ tóm gọn dưói dạng một đề tài nghiên cứu văn học. Đă là một đề tài th́ chỉ nói được một khía cạnh nhỏ bé nào đó mà thôi. Bởi vậy xin Quí Cha cùng Quí Vị thứ lỗi cho con nếu việc tŕnh bày không được đầy đủ và khúc chiết cho lắm.

                 Con xin được phép bắt đầu.

 

__________________________________________________________

 

 

I.                   I. ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Sự phát triển của thơ đạo

 

Từ  đầu thế kỷ XVI, đạo Công Giáo đă bắt đầu truyền vào Việt Nam.

Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục có ghi như sau: “Năm Nguyên Ḥa nguyên niên (1533) đời Vua Lê Trang Tông, có một dương nhân tên là I-ni-khu đi đường biển lén vào giảng đạo Gia-Tô ở làng Ninh Cường, Quần Anh thuộc huyện Nam Chân, và làng Trà Lũ thuộc huyện Giao Thủy”. Nếu lấy thời gian này làm mốc lịch sử truyền giáo th́ thơ đạo Việt Nam cũng đă bắt đầu xuất hiện từ đó. Tuy nhiên các bài thơ được ghi chép c̣n lưu truyền cho đến nay là những bài thơ của các thánh tử đạo Việt Nam vào thế kỷ thứ XVII và thế kỷ thứ XVIII.

Ví dụ như Thánh Francisco Gil de Federich Tế, linh mục thừa sai 43 tuổi, tử đạo ngày 22/ 01/ 1745 đă có những vần thơ Song thất lục bát cầu nguyện với Mẹ Maria trong những năm 1733 – 1735 như sau:

                   

“Lạy Thánh Mẫu cao vời nhân ái,                 

Tấm ḷng con điên dại dáng thương,                   

Ngày đêm nung nấu can trường,                    

T́nh bao la Mẹ, đâu phương đáp đền.

                                           

Trong tâm tưởng con hằng mong ước,                   

Khắp muôn phương loan báo Tin Mừng,                   

Giờ con gặp cảnh sầu thương,                   

Như thuyền neo bến, trùng dương xa vời”.

                       

Hoặc của Thánh Micae Nguyễn Huy Mỹ, Lư trưởng 34 tuổi, tử đạo ngày 12/ 08/ 1838. Trong khi mang gông xiềng và bị đánh đ̣n, vị thánh đă cảm hứng và sáng tác một bài thơ Đường luật thể thất ngôn bát cú như sau:

                                 

“Gông đóng xiềng mang, dạ nguyện kinh                                 

Những say v́ đạo, hả v́ t́nh                                 

Vai mang bốn điệp, tai thêm ấm                                 

Xống xếnh ba ṿng, cổ lại thanh                                 

Phép nước đành ḷng, không oán thán                                 

Nghĩa thầy để dạ, vẫn đinh ninh                                 

Khiến sao nên vậy, nào lo nghĩ                                 

Phó mặc Hoàng Thiên, sự tử sinh”.

 

Hoặc của Thánh Anrê Trần An Dũng Lạc, Linh mục 44 tuổi, ngài có năng khiếu về thi phú và được phúc tử đạo ngày 21/ 12/ 1839. Từ trong ngục tối, ngài đă ngâm mấy vần thơ gởi về Cha Thực như sau:

                                 

“ Lạc rày đă rơ chốn quân quan                                 

Bút chép thơ này gởi thở than                                 

Ḷng nhớ bạn, nỗi c̣n vất vả                                 

Dạ thương khách, chạy giữa yên hàn                                 

Đông qua tiết lại th́ xuân tới                                 

Khổ trảm mai sau hưởng phúc an                                 

Làm kẻ anh hùng chi quản khó                                 

Nguyện xin cùng gặp chốn Thiên Đàng”.

Nhưng măi đến 400 năm sau, về phương diện văn học mới có một nhà thơ Công Giáo nổi tiếng trên thi đàn Việt Nam. Đó là Hàn Mặc Tử Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22/ 9/ 1912, tại Đồng Hới (Quảng B́nh) và mất ngày 11 / 11/ 1940 tại nhà thương Qui Ḥa, Qui Nhơn.

Hàn Mặc Tử bắt đầu nổi tiếng với bài Đường Luật thất ngôn bát cú tựa đề “Thức Khuya” đăng trên Thực nghiệp dân báo (số 11, 10-1931)                

Non sông bốn mặt ngủ mơ màn

Thức chỉ ḿnh ta dạ chẳng an                                

Bóng nguyệt leo song sờ sẫm gối                                

Gió thu lọt cửa cọ mài chăn                                 

Khóc giùm thân thế hoa rơi lệ                                 

Buồn khóc công danh dế dạo đàn                                

Trỗi dậy nôm na vài điệu cũ                                 

Năm canh tâm sự vẫn chưa tàn.                       

Và đă được Cụ Sào Nam Phan Bội Châu họa lại trên báo của “Mộng Du Thi Xă”

                                 

Chưa lợi  trường danh tư  chẳng màng                                 

Sao ăn không ngọt ngủ không an?!                                 

Trăm năm ngán đó tuồng dâu bể                                 

Muôn họ nhờ ai bạn chiếu chăn?!                                 

Cửa sấm gớm ghê người đánh trống                                 

Tai trâu mệt mỏi khách đưa đàn                                 

Ḷng sen đằng đẵng tơ sen vướng                                 

Mưa gió bao phen gộc chẳng tàn.                       

Nhưng bài thơ của Hàn Mặc Tử được phổ nhạc hay nhất chính là bài “Ave Maria”

                                 

Như song lộc triều nguyên ơn phước cả,                                 

Dâng cao dâng thần nhạc sáng hơn trăng,                                 

Thơm cho bay cho đến cơi Thiên Đàng,                                 

Huyền diệu biến thành muôn kinh trọng thể.                                                          

Và Tổng lănh Thiên Thần quỳ lạy Mẹ,                                 

Tung hô câu đường hạ ngớp châu sa,                                 

Hương xông lên lời ca ngợi sum ḥa,                                 

Trí miêu duệ của muôn v́ rất thánh.                       

                                 

Maria! Linh hồn tôi ớn lạnh!                                 

Run như run, thần tử thấy long nhan,                                 

Run như run hơi thở chạm tơ vàng,                                 

Nhưng ḷng vẫn thấm nhuần ơn tŕu mến.

 

          Lạy Bà là Đấng tinh tuyền thánh vẹn

          Giàu nhân đức, giàu muôn lộc từ bi

          Cho tôi dâng lời cảm tạ pḥ nguy

          Cơn lâm lụy vừa trải qua dưới thế.

           

          Tôi cảm động rưng rưng hai hàng lệ

          Gịng thao thao bất tuyệt của nguồn thơ

          Bút tôi reo như châu ngọc đền vua

          Trí tôi hớp bao nhiêu là khí vị

          Và trong miệng ngậm câu ca huyền bí

          Và trong tay nắm một nạm hào quang.

           

          Tôi no rồi ơn vũ lộ ḥa chan

          Tấu lạy Bà, Bà rất nhiều phép lạ

          Ngọc như ư vô tri c̣n biết cả

          Huống chi tôi là Thánh Thể kết tinh

          Tôi ưa nh́n Bắc Đẩu rạng b́nh minh

          Chiếu cùng hết khắp ba ngàn thế giới