MỤC VỤ LỜI CHÚA
PHỤNG VỤ LỜI CHÚA CHÚA NHẬT THƯỜNG NIÊN
Trang chủ Tổng quan sinh hoạt Tin tức mục vụ Tin nhắn đặc biệt Chia sẻ Lời Chúa Nối kết website
|
PHỤNG VỤ LỜI CHÚA THEO NĂM PHỤNG VỤ NĂM A |
BÀI GIẢNG THAM KHẢO |
|
CHÚA NHẬT XXX TN A (08) “Hăy vui ḷng dạy con t́nh yêu”
Dẫn nhập đầu lễ : Kính thưa cộng đoàn, Sứ điệp Phụng vụ hôm nay lại gióng lên một lời kêu gọi xem ra rất cũ, rất thường nhưng lại rất cơ bản để diển tả niềm tin Kitô giáo, để hiện thực Tin Mừng của Chúa Giêsu đó là : thực thi giới răn “Mến Chúa-Yêu người”. Để thực hành đến nơi đến chốn giới răn yêu thương, chúng ta hăy cầu xin Chúa Thánh Thần “đổ tràn t́nh yêu vào tâm hồn chúng ta” (Rm 5, 5), và xin Thánh Thể Chúa hôm nay biến đổi “trái tim chai đá của chúng ta” nên giống “trái tim hiền lành và khiêm nhượng” của chính Chúa Giêsu, Đấng đă đến v́ t́nh yêu, đă giảng rao t́nh yêu và đă chết v́ t́nh yêu. Giờ đây, chúng ta hăy nh́n nhận tội lỗi, nhất là những tội phạm đến đức yêu thương, để xứng đáng cử hành mầu nhiệm thánh.
Giảng Lời Chúa Có một câu Kinh Thánh trong sách Đệ nhị Luật mà người Do Thái sùng đạo nào cũng thuộc nằm ḷng v́ họ đọc mỗi ngày như một lời kinh : “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết ḷng, hết linh hồn và hết trí khôn người” (Đnl 6,5). Và dĩ nhiên, đối với tâm thức tín ngưỡng của họ : nội dung cốt lơi của việc thể hiện niềm tin chính là quy chiếu và thực hiện giới răn nầy : mến Chúa. V́ “mến Chúa trên hết mọi sự” nên người ta có thể mặc kệ những người phung cùi chết đau thương ngoài hoang mạc v́ đụng tới họ sẽ bị nhiễm uế và mất đi sự tinh trong thánh thiện đẹp ḷng Thiên Chúa. V́ “mến Chúa trên hết mọi sự”, nên người ta khinh khi và cách ly những tên thu thuế (như Matthêu, Giakêu…) mà dưới mắt của những người đạo đức chỉ là những tên vô lại và tội lỗi mà nếu tiếp cận sẽ kéo theo tội lỗi xúc phạm đến Chúa. V́ “mến Chúa trên hết mọi sự”, nên người ta sẵn sàng ŕnh bắt cho được một phụ nữ yếu đuối lỡ làng phạm tội ngoại t́nh và sẵn sàng ném đá cho chết đáng đời. V́ “mến Chúa trên hết mọi sự” nên làm ǵ có chuyện một ngôn sứ lại giao du với phường tội lỗi lại để cả những cô gái điếm đụng chạm đến ḿnh. V́ “mến Chúa trên hết mọi sự” nên không thể chấp nhận một anh chàng thợ mộc quê mùa Na-da-rét dám lộng ngôn tự xưng ḿnh là Con Thiên Chúa. V́ “mến Chúa trên hết mọi sự” nên phải tức tốc khử trừ một “Giêsu dám ngang nhiên thách đố : “cứ phá đến thờ nầy đi, 3 ngày sau ta sẽ xây dựng lại”. V́ “mến Chúa trên hết mọi sự” nên họ không c̣n nhớ ǵ những lời dạy yêu thương của Môsê trong sách Xuất hành mà chúng ta vừa ghe đọc lại trong BĐ 1 : “Nếu ngươi giữ áo choàng của người khác làm đồ cầm, th́ ngươi phải trả lại cho nó trước khi mặt trời lặn. Nó chỉ có cái đó để đắp, để làm áo che thân ; nó lấy ǵ mà ngủ ? Nó mà kêu cứu Ta, Ta sẽ nghe nó, v́ Ta vốn nhân từ”… Và như Tin Mừng hôm nay vừa kể, để “trắc nghiệm” bài giáo lư và lập trường đức tin cơ bản nầy, họ đợi chờ Chúa Giêsu bày tỏ thái độ có “mến Chúa trên hết mọi sự” như họ không nên họ đă dàn dựng một màn phỏng vấn : “Thưa Thầy trong sách Luật Môsê, điều răn nào là điều răn trọng nhất ?”. Thật là may mắn ! Như một người đạo đức b́nh thường trong truyền thống đức tin của cha ông, Đức Kitô đă trả lời đúng phóc : “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết ḷng, hết linh hồn và hết trí khôn người”. Nhưng hơn thế nữa, Ngài đă móc lại một điều được ghi trong một sách Kinh Thánh khác, sách Lêvi, mà có lẽ, những ông biệt phái, những thầy kư lục ít khi đọc đến hoặc xem thường : “C̣n điều răn thứ hai cũng giống điều răn ấy, là : Ngươi phải yêu người thân cận như chính ḿnh” (Lv 19,18). Nhưng có lẽ câu phán quyết xanh rờn sau đó đă làm họ ngỡ ngàng và chưng hửng : “Tất cả luật Môsê và sách các ngôn sứ tùy thuộc vào hai đều răn ấy”. Như vậy đă quá rơ ràng, với lập trường sống đạo và quan niệm đức tin cả Chúa Giêsu, trong giới răn “mến Chúa trên hết mọi sự” phải bao hàm “yêu thương anh em như chính ḿnh”. Và phải chăng để thuyết minh cho chân lư nền tảng nầy mà Ngài đă : - Chen chân giữa đám dân đen để cùng họ lội xuống ḍng sông Giođan cho ông Gioan làm phép rửa. - Tiếp cận với những người cùi hũi đáng thương để đem họ trở về cuộc sống b́nh thường. - Kêu gọi Lêvi, người thu thuế trở lại làm Tông đồ Matthêu - Thăm viếng nhà tay trưởng ty thuế vụ Giakêu để hoán cải ông nên người hoàn thiện. - Đón nhận những giọt nước mắt thống hối của người đàn bà tội lỗi Maria Mađalêna để chị hoàn lương làm lại cuộc đời mới. - Đă tỏ thái độ cảm thông và kính trọng người phụ nữ ngoại t́nh để cuối cùng trao ban một phán quyết đầy nhân ái yêu thương : “Phần Ta, Ta cũng không kết án chị đâu”. - Sẵn sàng quỳ xuống rửa chân cho các môn sinh để dạy họ bài học cụ thể yêu thương phục vụ - Và sau cùng sẵn sàng chịu chết giữa hai tên trộm cướp để hoàn thành lời chứng cuối cùng : chết v́ yêu thương anh em chính là của lễ đẹp nhất để tôn vinh và yêu mến Thiên Chúa… Và kể từ độ ấy, trong “cuộc hành tŕnh đức tin” của Dân Chúa, đă có biết bao nhiêu chứng từ và chứng tá tuyệt vời của cuộc sống “mến Chúa – yêu người” theo cung cách Giêsu mà Hội Thánh đă trân trọng tuyên dương là những bậc thánh nhân để muôn người chiêm ngưỡng và cất bước noi theo. - Một Maria Goretti, mới 14 tuổi đầu, bị đâm mười mấy nhát dao để bảo toàn trinh khiết, trong cơn hấp hối đă thều thào những lời yêu thương : “Con đă tha thứ cho anh ấy”. - Thánh nữ Têrêsa hai Đồng Giêsu, đă hiên ngang phát biểu : “Ở giữa ḷng Hội Thánh em sẽ là t́nh yêu”. - Trong khi Thánh Augustinô, một chàng trai phóng túng lạc đạo, khi trở lại hoàn lương đă tuyên rao rằng “hăy yêu đi rồi làm ǵ th́ làm”. - Mẹ Têrêsa thành Calcutta, người lănh giải Nobel Ḥa b́nh năm 1978, dành cả một đời để yêu thương phục vụ những người cùng khốn cùng với những giờ thinh lặng nguyện cầu sốt sắng trước Thánh Nhan Cha… Phải chăng Giáo Hội và thế giới đang rất cần những con người như thế, những con người diễn tả đức tin bằng hai thanh dọc và ngang của cây Thánh giá : Dọc để hướng lên trời mà “Mến Chúa” và ngang để dang rộng ṿng tay “yêu người”. Bởi v́ chỉ có những con người sống trọn vẹn niềm tin với hai chiều kích cơ bản đó mới đem lại một thế giới an b́nh và hạnh phúc, một thế giới thấm t́nh huynh đệ đại đồng đối xử với nhau như anh em trong đại gia đ́nh con cái Thiên Chúa. Chúng ta cũng đừng quên : đă có một thời người ta hô hào “giết chết Thượng Đế để con người lên ngôi” và kết quả hàng trăm triệu người đă bị tàn sát trong thế chiến thứ II v́ cái triết thuyết “Siêu Nhân” hoang tưởng đó. Đă có một thời, và vẫn c̣n hiện hữu, một ư thức hệ vô thần, đó là chủ nghĩa Cọng sản Mác-Lê, tuyên truyền sẽ xây dựng một thế giới đại đồng, một thiên đường hạ giới bằng cách loại trừ Thiên Chúa, tín ngưỡng, tôn giáo khỏi cuộc sống con người và kết quả bao nhiêu “bức tường ô nhục đă mọc lên” để che chắn cho những địa ngục trần gian mà trong đó con người bị đối xử như bầy đàn súc vật để sau cùng sẽ dẫn tới những “cánh đồng chết” dầy sọ trắng xương khô… Quả thật, khi con người “chặt đứt thanh dọc” hướng về Thiên Chúa th́ đồng thời cũng làm “găy đổ thanh ngang” trong quan hệ với tha nhân. Láo khoét và tai hại biết bao những con người, những triết lư, những chủ nghĩa, những ư thức hệ cực đoan rao bán những tư tưởng què quặt, dối trá như “chỉ có Thượng Đế” hay “con người là tất cả”; v́ những “sản phẩm bệnh hoạn đó” chỉ có tác dụng giam hảm con người trong mê lầm tuyệt lộ hay khích dụ con người cuồng tín lao ḿnh vào những cuộc khủng bố tởm kinh. V́ thế, chúng ta có thể nói được rằng : Mến Chúa-Yêu người : không phải luật dành riêng cho Do Thái giáo, Kitô giáo mà là cho toàn thể nhân loại. Đó là con đường, là phương thế đă, đang và sẽ măi măi cần cho sự tồn tại và phát triển của thế giới. Tuy nhiên, Đức Ái là một “nhân đức đối thần”. Không dễ ǵ tự sức chúng ta có thể “mến Chúa-yêu người’ cách ngon ơ như “tḥ tay lấy đồ trong túi”, mà phải từng phút giây tha thiêt nguyện cầu để Chúa Thánh Thần “đổ tràn t́nh yêu vào tâm hồn chúng ta”. Chính trong tâm t́nh đó, chúng ta hăy cùng với Mẹ Á Thánh Têrêsa Calcutta nguyện cầu cùng Chúa Giêsu, là Thiên Chúa t́nh yêu Đấng đă dạy cho chúng ta con đường “mến Chúa-yêu người” :
Chúa Giê-su rất yêu mến của con Chúa đă sinh ra với t́nh yêu Chúa đă phục vụ bằng t́nh yêu Và bước đi, với t́nh yêu Chúa đă được tôn kính, với t́nh yêu Chúa đă đau khổ và chết trong t́nh yêu Và đă ra khỏi mồ với t́nh yêu Con cảm tạ Chúa v́ t́nh yêu Chúa đă cho con Và t́nh yêu mà Chúa đem đến cho thế giới Con xin Chúa hôm nay cũng như mỗi ngày, Hăy vui ḷng dạy con T́nh yêu Để con cũng vây, con biết yêu. Amen.
(Cầu nguyện với Mẹ Têrêxa, trang 23).
CHÚA NHẬT XXVIII TN A Bàn tiệc Nước Trời đang mở cửa
Dẫn nhập đầu lễ :
Nếu đức tin là một cuộc hành tŕnh tiến về vĩnh cửu và mỗi người Kitô hữu là một khách hành hương, th́ Chúa Nhật hôm nay, Lời Chúa đang dẫn dắt chúng ta hướng về “điểm đến” của cuộc hành tŕnh đức tin đó, về bến đỗ cuối cùng của cuộc hành hương đó, hướng về viễn tượng “trời mới đất mới” của ngày cứu độ, một viễn tượng “cánh chung- tận thế” đầy hoan vui hy vọng mà dụ ngôn “Tiệc cưới của hoàng tử” được công bố trong Phụng vụ Thánh lễ hôm nay như một lời ấn chứng, như một khắc họa sinh động và rơ nét. Để có thể tham dự “Bàn tiệc Thánh Thể” hôm nay với đầy đủ “y trang hôn lễ” hầu nắm chắc chiếc ”thiệp mời” tiến vào “Bàn Tiệc Nước Trời”, chúng ta cùng thú nhận tội lỗi.
Giảng Lời Chúa :
Có nhiều người đă tự hởi : Nhờ sức mạnh ma quái nào để Kitô giáo có thể chinh phục hàng tỷ con tim nhân loại ? Có phải là một Giêsu với h́nh hài “Ecce Homo thân tàn ma dại” bị chính quyền Rôma kết án ? ; có phải là “đồi trọc Canvê với thập giá và sọ người”, có phải là một “nấm mồ trống hoang lạnh với tiêu tan và bụi đất…” ; hay là “Bài thuyết giảng trên núi” mà nội dung quanh quẩn chỉ là những “mối phúc lạ đời chẳng giống ai” : khó nghèo, khóc lóc, bị bách hại, hiền lành, khát khao công chính… Nếu quả thật nội dung của tín điều Kitô giáo chỉ tập chú vào những “phạm trù tiêu cực, buồn héo hắt và ảm đạm thê lương như thế, th́ quả thật, niềm tin ấy, giáo lư ấy, Kinh thánh và Hội thánh ấy, các nhà triết gia, thần học gia và giảng thuyết, và cả Đấng sáng lập, ông Giêsu-Kitô người Na-da-rét…đă bị lịch sử chôn vùi từ lâu, đă bị văn minh và văn hóa nhân loại đào thải vĩnh viễn khỏi sân chơi thế giới ! Không có một sức mạnh ma quái nào cả mà là một Tin Mừng cũng là một niềm hy vọng. Tin mừng đó chính là : đằng sau một Giêsu với h́nh hài “Ecce Homo thân tàn ma dại” là một Đấng Phục Sinh vinh quang chiến thắng ; đằng sau “đồi trọc Canvê với thập giá và sọ người” là sự sống vĩnh hằng và ơn cứu độ trào dâng ; đằng sau “Bài thuyết giảng trên núi” với những “mối phúc lạ đời chẳng giống ai” : khó nghèo, khóc lóc, bị bách hại, hiền lành, khát khao công chính… là những con đường dẫn về cơi phúc đích thực ; đằng sau những khóc lóc sầu thương của phận người ê chề, thảm nảo là “Bửa tiệc Nước Trời chất ngất hoan vui của hạnh phúc vĩnh hằng”… Chân lư đó ở đây-giờ nầy phải chăng được biểu tỏ nơi lời công bố của sứ ngôn I-sa-ia trong Bài đọc 1 : “Ngày ấy, trên núi nầy, Đức Chúa các đạo binh sẽ đăi muôn dân một bữa tiệc : tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon, thịt béo ngậy, rượu ngon tinh chế…Người sẽ vĩnh viễn tiêu diệt tử thần…sẽ lau khô ḍng lệ…xóa sạch nổi ô nhục…” (BĐ 1)., hay được ngụ ư cách thâm thúy và cụ thể hơn, trong chính dụ ngôn Tin Mừng “Tiệc cưới của hoàng tử” mà chúng ta vừa nghe công bố. Chúng thử cùng nhau dừng lai để hiểu thêm nội dung chân lư cao sâu nầy.
1. Thân phận con người : Buồn hay Vui ? Trước khi con người nhận chân được một niềm “hy vọng rạng ngời ở cuối đường lịch sử”, th́ trên thân phận của kiếp nhân sinh đă rợp bóng một “nổi buồn muôn thuở”. Quả thật, Sau tội nguyên tổ, mọi sự đă chỉ c̣n là bất hạnh : Cain giết em, tháp Babel dở dang sụp đổ v́ ngôn ngữ bất đồng, lụt Đại hồng thủy san bằng, xóa sạch, Sôđôma đồi trụy bị bảo lửa thiêu rụi tan tành…. ; và lịch sử của Dân được chọn đă được viêt tiếp hết trang nầy qua trang nọ : thay v́ nhạc hát hoan ca của độc lập, hùng cường là ḍng lệ tuôn tràn với tiếng khóc nỉ non, tiếng oán than tê tái của nổi buồn tha hương nô lệ phải “treo đàn trên cây dương liễu”, thay v́ áo cưới rỡ ràng cua ḥa b́nh, hạnh phúc là những chiếc “khăn liệm bạt màu tang chế” của chết chóc phân ly… Quả thật, giữa chợ đời nhân loại nếu có chăng những bữa tiệc, là kiểu “bữa tiệc “Vượt Qua” trong lo âu vội vă lên đường để trốn chạy kiếp đọa đầy nô lệ buổi “Xuất hành”, hay “bữa tiệc của Hêrôđê thấm đẩm oán thù ác độc với cái đầu của Gioan trên đĩa” ; hay thời sự hơn nữa : bữa tiệc của Mao-Trạch Đông đăi Tổng thống Mỹ Nixon mà mùi vị nặc nồng những mưu toan chính trị và mặc cả quyền lợi… Nhưng Thiên Chúa lại kiên định trong đường lối và kế hoạch yêu thương. Ở giữa ḷng thế giới băng hoại và tăm tối, ở trong một thế giới bát nháo điêu linh và đầy tràn tội lỗi, Ngài vẫn gieo những hạt mầm của niềm tin và hy vọng. Niềm tin về một “Đất Hứa với sửa và mật tuôn tràn”, niềm tin về một “Giêrusalem tưng bừng hoan hỷ”, niềm tin về một “địa đàng với suối mát đồng xanh để hàng hàng lớp lớp đàn chiên tha hồ ăn no và nằm nghỉ”, niềm hy vọng về một thế giới thái b́nh thịnh trị đến độ “cung kiếm chiến tranh đă biến thành liềm hái ḥa b́nh, sói cọp hung hăng nên hiền lành chơi chung với chiên dê thỏ sóc”, và cuộc sống trần gian, đâu đâu cũng trở thành “Bữa tiệc”, một h́nh ảnh, một ẩn dụ rất thường được Kinh Thánh Cựu cũng như Tân ước sử dụng để diễn tả “niềm hy vọng cánh chung” nầy : “Ngày ấy, trên núi nầy, Đức Chúa các đạo binh sẽ đăi muôn dân một bữa …” (BĐ 1).
2. Bàn tiệc của Nước Trời đang mở cửa Và “Bàn Tiệc nước Trời” của muôn đời khao khát ước mong đă trở thành hiện thực, đă chính thức “khai trương”, đă bắt đầu mở cửa. Không phải là “cuộc khai trương với biến cố Xuất Hành có một không hai thời Môsê đưa dân về Đất Hứa” ; cũng không là “cuộc khai trương với biến cố hồi hương vĩ đại sau kiếp nạn lưu đầy thời vua Cyrus” để sau đó Đền thờ lại sụp đổ, Đất Nước lại qua phân và dân Chúa lại phải điêu linh sống kiếp nô lệ”. Nước Trồi đă mở cửa cách long trọng nhưng giản đơn vào một buổi sáng trên bờ sông Giođan khi “Con Thiên Chúa” chen chúc giữa đám dân đen để trầm ḿnh chịu phép rửa trong khi “trời mở ra, có tiếng Chúa Cha phán dạy : “Đây là Con Ta yêu dấu…” ; Nước Trồi đă mở cửa trên một đồi núi xứ Palestina khi “Tin Mừng Tám mối Phúc Thật” được long trọng công bố như “bản hiến chương Nước Trời” mà hạnh phúc đích thật sẽ dành cho những kẻ “khó nghèo” ; Nước Trồi đă mở cửa nơi tiệc cưới xứ Cana khi mấy trăm lít nước lă đă hóa thành rượu ngon để nổi nhục bẽ bàng v́ “hết rượu” được cất đi nhường chỗ cho niềm vui hôn lễ đươc ắp đầy miên viễn ; Nước Trồi đă mở cửa vào một ngày nhạt nắng giữa hoang mạc Giuđê khi hơn nửa vạn người hoan vui chia nhau những tấm bánh thơm và con cá béo vừa được Thầy nhân lên cách lạ lùng và chia đều trong thân thương huynh đệ ; Và phải chăng, “Bàn tiệc Nước Trời” đó cũng chính là “bữa tiệc của người thu thuế Matthêô” đă long trọng mời Thầy và bè bạn trong phường thu thuế đánh chén một bữa no say để chính thức “giả từ cuộc sống bon chen v́ tiền” mà dấn thân ra đi làm tông đồ cho yêu thương và hy vọng ; “Bàn tiệc Nước Trời” đó cũng chính là bữa tiệc của ông trưởng ty thuế vụ Gia-kê, đă ân cần trọng thị tiếp đăi Thầy để nhân đó tuyên bố “sẽ phân chia nửa tài sản cho kẻ nghèo và đền gấp bốn cho những người bị bóc lột” ; “Bàn tiệc Nước Trời” đó cũng chính là bữa tiệc mà cô Maiđệliên đă đem hết những giọt nước mắt chân t́nh sám hối tưới đẫm lên chân Thầy để quay đầu làm lại cuộc sống mới ; “Bàn tiệc Nước Trời” đó cũng chính là bữa tiệc mà cô Maria Bêtania sắn sàng “đập bể b́nh dầu thơm cam tùng hảo hạng để xức chân Thầy” khiến cho những đầu óc bủn xỉn tham lam như Giuđa Ít-ca-ri-ốt phải một phen tiếc nuối. Và “bàn tiệc Nước Trời” đă liên tục có những ngày “mở cửa khai trương như thế”, nhất là kể từ khi có “Bàn Tiệc Vượt Qua Ngày Thứ Năm” của Thầy ngồi với nhóm môn sinh để quyết định “thực hiện “Giao Ước mới” bằng máu đào hy tế ; và sau đó, là những “bữa tiệc phục sinh” khi th́ ở giữa căn pḥng ấm cúng, khi th́ nơi quán trọ, có lúc mới sáng tinh mơ trên bờ hồ Tibêriát…mà trọng tâm của hoan lạc ắp đầy chính là sự hiện diện của một “Đấng Phục Sinh” đă đánh bại tử thần, với tràn ngập sức mạnh Thánh Thần sẵn sàng ban tặng, mở cánh cửa của Mùa xuân hy vọng vĩnh hằng để dẫn nhân loại bước vào “Bàn Tiệc cánh chung muôn đời hạnh phúc”. Khi hiểu được huyền nhiệm về “bàn tiệc Nước Trời” như thế, th́ chúng ta chợt nhận ra rằng : h́nh như đă bao lần chúng ta đă từng là một trong những kẻ “quay lưng khước từ “lời mời tham dự tiệc cưới của hoàng tử”. Khước từ có khi v́ không nhận chân được giá trị tối ưu của bàn tiệc Nước Trời, có khi v́ quá nặng nề với những “bữa tiệc đời” theo một quán tính biếng lười và đam mê xác thịt ; cũng có khi v́ một thứ nảo trạng ”biệt phái kiêu căng”, đặt những nhu cầu nhân loại của riêng ḿnh (nghề nghiệp, học hành, t́nh yêu, địa vị, an toàn bản thân…) lên trên những đ̣i hỏi dấn thân của Tin Mừng. Chính Đức Kitô đă thấy trước hiện trạng nầy biểu tỏ ngay nơi thái độ của những người Do Thái mang danh “Biệt Phái, Kư Lục”. Cho nên một đàng Ngài đă mạnh mẽ lên án “đám dân giả h́nh kiêu ngạo” và một đàng quyết định mở một một “Bàn Tiệc mới” để gọi mời hết thảy muôn dân, nhất là những kẻ vốn bị “khước từ hay chưa bao giờ có được “tấm thiệp mời” tham dự những bữa tiệc đời sang trọng phủ phê” ở những nơi cao sang quyền quư. Và như thế, Giáo Hội hôm nay đang là dấu chỉ và cơ hội “tham dự bàn Tiệc Nước Trời” cho mọi người trong đó có chúng ta ; Giáo Hội đang “hiện thực hóa cuộc khai trương Nước Trời của Đấng Phu Quân Kitô” để dẫn dắt nhân loại tiến về một ngày mai chung cuộc của “Tiệc Cưới Con Chiên” huy hoàng rạng rỡ. Thế nhưng, cho dù “trên tay đă có tấm thiệp mời” th́ xin bạn đừng chủ quan coi thường trang phục lễ cưới. Dĩ nhiên thời trang hôn lễ trong cách nh́n của “Nhà tạo mẫu Đức Kitô” lại là những giá trị tinh thần mà chủ yếu đó chính là thực thi hai điều răn căn bản “Mến Chúa-Yêu người”, là can đảm dấn thân trên nẽo đường Bát Phúc : khó nghèo, trong sạch hiên lành, giọt nước mắt của sám hối ăn năn, trái tim yêu thương luôn rộng mở…, là đơn sơ trong sáng khi “hóa nên như trẻ nhỏ”, là từ bỏ hy sinh sẵn sàng bán tất cả để t́m được viên ngọc quư…. Chính với những “trang sức tuyệt vời nầy”, chúng ta chắc chắn sẽ được đồng bàn và “cụng ly” với chính Hoàng Tử” nơi Bàn Tiệc Tạ Ơn hôm nay, khi được chính Ngài thân thương mời đón : “hăy cầm lấy mà ăn…hăy nâng lên mà uống”, để rồi sẽ được chính Ngài dẫn chúng ta vào dự tiệc trường sinh trong Vương Quốc của Cha như Ngài từng đoan quyết : “Ai ăn thịt và uống máu Ta sẽ được sống muôn đời, và Ta sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết…”. Amen.
CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN A 2008 Xin măi được làm “người con thứ nhất” !
Dẫn nhập đầu lễ :
Gần như để tiếp nối và đào sâu những gợi ư của Chúa Nhật tuần trước, sứ điệp phụng vụ Chúa Nhật hôm nay lại đưa chúng ta vào viễn tượng “Vườn Nho Nước Trời”. Đặc biệt, Lời Chúa hôm nay muốn thôi thúc chúng ta phấn đấu để trở nên những “tay thợ làm vườn” cần mẫn và khiêm hạ, biết lắng nghe tiếng gọi của Cha trên trời để không ngừng hoán cải mà hiến thân cho công cuộc của Cha. Quả thật, trong “Vườn Nho Nước Trời” hôm nay c̣n quá nhiều những công việc bộn bề đang cần mỗi người chúng ta dấn thân thực hiện. Với điều kiện, phải hoán cải để trở nên những “người con thứ nhất”, mà ngôn ngữ của dụ ngôn Tin Mừng gọi đó là “kẻ đă thi hành ư muốn của người cha”. Việc hoán cải như thế phải được bắt đầu ngay chính giờ phút nầy để chúng ta xứng đáng cử hành thánh lễ và để sau đó chúng ta tiếp tục lên đường “thi hành ư muốn của Cha” ở giữa ḷng cuộc sống.
Giảng Lời Chúa :
1. Người con thứ nhất là những ai ? Kính thưa cộng đoàn, Dụ ngôn “Hai người con” được Matthêu tường thuật hôm nay chắc chắn nằm trong một loạt những dụ ngôn được Chúa Giêsu sử dụng trong các cuộc tranh luận với những người kư lục và biệt phái, để vạch trần tính kêu căng, hợm hĩnh, giả h́nh, bất khoan dung… trong cung cách sống đạo và ứng xử với tha nhân của họ. Không chỉ liên quan đến những người luật sĩ và biệt phái ngày xưa, lời dạy của Chúa Giêsu trong dụ ngôn Tin Mừng vừa được công bố vẫn c̣n nguyên giá trị giáo dục đức tin dành cho tất cả chúng ta hôm nay. Bởi chưng, khi dừng lại để kiểm điểm cuộc đời, nào chẳng phải đă bao lần chúng ta cố t́nh quên mất thân phận tội lỗi của ḿnh để kiêu căng hợm hĩnh tự cho ḿnh là kẻ không làm điều ǵ gian ác, chu toàn lề luật “trăm phần trăm” và an nhiên tự tại với lối sống đạo và đối nhân xử thế đầy sai lệch và ích kỷ của ḿnh đó sao ! Nếu ngày xưa, Chúa Giêsu mạnh mẽ lên án những người Kư lục và Biệt phái nói mà không làm, bắt kẻ khác giữ lề luật nhưng chính họ lại trốn tránh..Th́ hôm nay, Lời Chúa cũng mời gọi chúng ta hăy thể hiện niềm tin không chỉ bằng lư thuyết hay lời nói suống ; mà phải là những chứng nhân sống động trong mối quan hệ thân t́nh với Thiên Chúa và nghĩa thiết với anh em. Nếu ngày xưa Chúa Giêsu đă từng dị ứng với cách hành đạo của những luật sĩ và biệt phái khi họ bắt kẻ khác giữ những điều tỉ mỉ, có khi chính họ đă bày vẽ ra để chất thêm gánh nặng cho kẻ khác, nhưng chính họ lại phủi tay chẳng buồn thực hiện ; th́ hôm nay Lời Chúa cũng đang thúc bách chúng ta hăy chu toàn những điều bé nhỏ nhất cùng với anh chị em trong t́nh hiệp thông và liên đới cộng đoàn. Nếu ngày xưa, Chúa Giêsu đă thẳng mặt vạch trần lối sống đạo giă h́nh, kiêu căng, tự hào công chính và kế thừa di sản đức tin chính truyền, biến lề luật thánh thành những điều lệ vô căn cứ, biến Lời Hằng Sống của Thiên Chúa thành một mớ những giải thích ṿng vo, những nghiêm lệnh nặng nề… để gạt ra ngoài những kẻ yếu đuối, tội lỗi, thấp cổ bé miệng…; th́ hôm nay Chúa Giêsu cũng muốn dạy bảo chúng ta như Ngài đă dạy bảo dân Do Thái cách đây 2000 trước con đường "thực thi đức công chính mới" mà thái độ trước tiên chính là sám hối hoán cải, đó cũng chính là Tin Mừng mà ngay từ buổi xuất hiện công khai Ngài đă long trọng công bố : “Hăy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,14) Mà chân lư nầy đâu có phải mới mẻ ǵ đâu ! Đó cũng chính là điều mà Thiên Chúa đă từng phán dạy ngày xưa trong thời Cựu ước như hôm nay chúng ta đă nghe sách sứ ngôn Ê-dê-ki-en trong bài đọc 1 : “C̣n nếu kẻ gian ác từ bỏ điều dữ nó đă làm, mà thi hành điều chính trực công minh, th́ nó sẽ cứu được mạng sống ḿnh…”. Đó cũng chính là điều mà dụ ngôn Tin Mừng hôm nay đă khắc họa bằng chân dung “người con thứ nhất”. - Người con thứ nhất đó chẳng phải là một Lêvi bỏ bàn thu thuế, đứng dậy theo Đức Kitô để trở thành Tông Đồ sao ? - Người con thứ nhất đó chẳng phải là một Maria Mađalêna với những giọt nước mắt sám hối chân thành nhỏ trên chân Chúa để từ đó đứng lên làm lại cuộc đời trong ánh sáng và t́nh yêu sao ? - Người con thứ nhất đó chẳng phải là một Gia Kê với thái độ ṭ ṃ đến ngây thơ trèo lên cây sung để nh́n cho được mặt Chúa, rồi sau đó tiếp rước Chúa vào nhà mà bắt đầu một cuộc sống mới sao ? Và - Người con thứ nhất đó chẳng phải là tên tử tội sắp sửa ĺa đời đă ngước nh́n về phía của Chúa Chịu đóng đinh với những lời thân thương và đầy ḷng trông cậy : “Khi Thầy vào Nước của Thầy, xin nhớ đến tôi”…Và Chúa đă hứa chắc : “Hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta”, Vâng, - Người con thứ nhất đó cũng chính là những người mà Ngài đă long trọng công bố đích danh ngày nào trước mặt những kư lục và biệt phái : “Người thu thuế và hạng gái điếm sẽ vào Nước Trời trước các ông”. Phải chăng đó là một “nghịch lư của Tin Mừng, mà nói như Bosuet “sự trái ngược chỉ có Thiên Chúa mới làm được” hay như văn hào Mauriac : “Trong những tâm hồn trước đây lửa dục vọng nung cháy th́ Chúa đến khơi lên một bầu lửa t́nh. Họ biết rằng họ càng dơ bẩn th́ càng được Chúa thương nhiều. Thương nhiều v́ dơ bẩn nhiều”. Đó chính là tinh thần khiêm hạ, khó nghèo của Chúa Kitô đă chọn lựa để nhập thể, để sống và để chết như Thánh Phaolô đă khắc họa trong thánh thi Philip được công bố trong BĐ 2 hôm nay : "Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy tŕ địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đă hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại c̣n hạ ḿnh, vâng lời cho đến nổi bằng ḷng chịu chết, chết trên cây thập tự...". Cuộc đời đó, giáo huấn đó có ǵ xa lạ với nhịp sống đức tin của chúng ta hôm nay. Chính v́ thế, ở giữa ḷng Hội Thánh, trong "Vườn Nho Giáo Hội" hôm nay chúng ta hăy xin măi được trở thành những "người con thứ nhất".
2. Xin được làm những “người con thứ nhất” !
Và cộng đoàn Giáo Hội ngay từ thuở ban đầu đă được làm nên bởi phần đông những con người như thế : những kẻ đă từng bỏ Thầy chạy trốn như các Tông Đồ, chối Thầy ba lần như Phêrô, bắt bớ đạo Chúa như Phaolô, những cô gái điếm hoàn lương, những anh chàng mù sáng mắt, những phụ nữ lẻo đẻo tháp tùng Chúa đi lên đồi Sọ, những bà góa nghèo chỉ có mấy đồng xu ten để bố thí, những kẻ phung cùi lành bệnh, những thanh niên đă từng bị quỷ ám, những trẻ thơ được Chúa chúc lành, người phụ nữ bệnh hoạn đă từng chạm đến gấu áo Chúa Giêsu… Và sau đó, trong kư ức của Hội Thánh, chúng ta lại đọc thấy bao nhiêu bóng dáng những “người con thứ nhất” như : - Augustinô đă có một thời thanh niên buông thả và lầm lạc, nhưng rồi, nhờ những giọt nước mắt nguyện cầu của người mẹ tuyệt vời Monica, sau đó đă trở thành Giám Mục và Giáo phụ thời danh của Hội Thánh trong những thế kỷ đầu tiên. - Phanxicô Assisi, chàng thanh niên giàu có lêu lổng, đă một lần nghe tiếng gọi của Lời Chúa và cương quyết dấn thân vào con đương hẹp của Tin Mừng. Cuộc đổi đời và sám hối đó đă thổi vào Giáo Hội lúc bấy giờ và măi cho tới hôm nay một luồng gió canh tân trở về nguồn cội của Tin Mừng. - Trong lịch sử Giáo Hội Viêt Nam, cũng không thiếu những Chứng nhân anh hùng, như các Thánh Phan Viết huy, Bùi Đức thể, Đinh Đạt, là những quân nhân, dù cho đă có lần yếu đuối chối đạo, nhưng sau đă trở lại cương quyết làm chứng đức tin và đă anh dũng lănh nhận cành lá thiên tuế Tử đạo… Phải chăng đó là “những người con thứ nhất” mà dụ ngôn Tin mừng hôm nay Chúa Giêsu từng ám chỉ. Và như thế, “Vườn Nho của Cha” măi măi đang cần những hạng “người con thứ nhất” đó để đi vào canh tác và xây dựng, để chăm sóc và giữ ǵn. Và như thế, tất cả chúng ta đều có lư do để hân hoan cảm tạ, để phấn chấn và hy vọng ắp đầy. Bởi v́ chúng ta đang thấy ḿnh trong chân dung của “Người con thứ nhất”, người con đă hơn một lần nghe tiếng Cha vẫy gọi “Hăy đi làm vườn nho cho Cha nhé!” nhưng đă yếu đuối khước từ v́ biết bao lỗi lầm thiếu sót, bao phản bội vong ân… Sám hối ăn năn, làm lại cuộc đời, phải chăng đó chính là của lễ mà Chúa ưa thích nhất : “Tế phẩm dâng Ngài là tâm thần tan nát., một tâm hồn tan nát dày ṿ Ngài sẽ chẳng khinh chê” (Tv 50), và đó cũng chính là tâm t́nh khiêm hạ và vâng phục của chính Chúa Giêsu, một chọn lựa căn bản để Ngài hoàn tất chương tŕnh cứu độ nhân loại (BĐ 2), một tâm t́nh mà mỗi người chúng ta luôn luôn mang lấy theo ḿnh như lời thúc dục của Thánh Phaolô trong bài đọc 2 hôm nay : “anh em hăy có những tâm t́nh như chính Đức Giêsu-Kitô”. Và chính trong tâm t́nh đó, chúng ta sẽ nhiệt thành đáp lại lời kêu gọi của Thiên Chúa trên mọi nẻo đường đời : “Con hăy đi làm vươn nho cho Cha nhé”… bằng lớp đáp khiêm nhu : “xin cho con măi được làm người con thứ nhất”…
CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN A Vẫn c̣n những “công nhân giờ thứ 11”
Dẫn nhập đầu lễ : Sứ điệp phụng vụ của Chúa Nhật XXV thường niên hôm nay là một thúc nhắc cộng đoàn chúng ta hoán cải theo Lời Chúa dạy là lột bỏ mọi biểu hiện của tự cao, biệt phái, kiêu căng và hăy biết noi theo ḷng nhân hậu của Thiên Chúa, mở rộng cơi ḷng đón nhận lẫn nhau bằng thái độ nhân từ quảng đại, sẵn sàng bao dung đón tiếp mọi anh chị em cho dù họ yếu đuối bất toàn (mà ngôn ngữ dụ ngôn Tin Mừng hôm nay gọi họ là những “công nhân giờ thứ 11”), để cùng nhau xây dựng “Vườn Nho” Chúa mỗi ngày thêm đẹp thêm xinh. Giờ đây, chúng ta hăy nh́n nhận tội lỗi để xứng đáng cử hành Mầu nhiệm thánh.
Giảng Lời Chúa :
Ở giữa chợ
đời hôm nay, những qui luật cạnh tranh sinh
tồn không mấy thiện hảo như “Mạnh
được yếu thua, may nhờ rủi chịu”, “cá
lớn hiếp cá bé”...lại được áp dụng
thật đúng mức .Nơi nào cũng đầy ắp
cảnh “lính cũ trấn lột lính mới”, người
có công vụ thâm niên, …th́ đè đầu cởi cổ
những kẻ mới tập tễnh vào nghề ;
những bậc thầy thức giả uyên thâm, những
cây cao bóng cả th́ xem thường lũ học tṛ mới
được dăm ba chữ, kẻ có quyền cao
chức trọng th́ trấn áp, bóc lột những người
nhà quê chân lấm tay bùn, nhứng thế lực với
quyền lực và vũ khí trong tay th́ tàn ác bất nhân
đối với những dám dân oan áo ôm khố rách, không
công trạng cũng chẳng có ô dù điểm tựa
đỡ nâng… Sự kiện “Thái Hà” và “Ṭa Khâm Sứ” tại Tổng giáo phận Hà Nội là một điển h́nh cụ thể cho cái qui luật chợ đời quái quỉ trên : một bên là đám giáo dân hiền lành chơn chất, chỉ với lời cầu nguyện và tiếng kêu oan bằng lẻ phải, c̣n một bên là lực lượng công an với súng ống, chó dữ, dùi cui và lựu đạn cay…
Và nào chỉ ở nơi
chợ đời mới xảy ra cái qui luật “đáng
ghét” nầy ! Ở ngay giữa ḷng thế giới tôn giáo,
dân Ít-ra-en, dân tộc ưu tuyển của Thiên Chúa, nơi
mà lương tâm con người được uốn
nắn kỹ càng ngay từ tấm bé để
hướng thiện, th́ vẫn tồn tại lâu dài
đến nhức nhối cái tiêu cực đáng ghét
nầy. Những người may mắn lọt vào hàng
tư tế hay luật sĩ, những kẻ mệnh danh
là “Biệt phái”…họ chỉ biết ăn trên ngồi
trước, đối xừ tàn tệ với dân đen,
kiêu căng hợm hĩnh với dân ngoại và những
người bị họ xếp vào loại “công nhân
giờ thứ 11” Thế nhưng họ lại là những người thường xuyên tiếp cận và dạy dỗ những lời chân lư của sách Lêvi như : “phải thương yêu đồng loại như chính ḿnh ngươi” (Lv 19,18) hay như Lời Chúa phán dạy qua sách Isaia chẳng hạn :
“Cách ăn chay mà Ta ưa thích
chẳng phải là thế nầy sao : mở xiềng xích
bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc, trả tự do cho
người bị áp bức, đập tan mọi gông cùm ?
Chẳng phải là chia cơm cho người đói,
rước vào nhà những người nghèo không nơi trú
ngụ ; thấy ai ḿnh trần th́ cho áo che thân, không ngoănh mặt làm ngơ trước
người anh em cốt nhục” (Is 58,6-7).
V́ thế, nếu cách đây 2000
năm, Đức Kitô đă phải nhiều lần
"ngậm đắng nuốt cay" để chửi
thẳng mặt vào cái “tính hư tật xấu nầy”; và
hôm nay, ở giữa ḷng ”Cộng đoàn Dân mới, Dân
tư Tế, Dân Vương Đế, Dân Thánh của Thiên
Chúa”, Lời Chúa lại một lần nữa vang lên
để cảnh báo, để vạch trần những
nhỏ nhen, biệt phái, những ích kỷ, đố
kỵ, hẹp ḥi…và dạy chúng ta bài học của khiêm
nhường hiền hậu, chân lư của bác ái khoan dung mà
dụ ngôn “công thợ vườn nho” hôm nay là một
hoạt cảnh sống động. Thật vậy, chẳng ở đâu
xa. Ngay giữa cộng đoàn chúng ta đây : vẫn c̣n
đó những con mắt lườm nguưt có đuôi,
những cái nhép môi khinh thị, những cú nhíu mày nhăn
trán bất bao dung, đố kỵ, những lời ong
tiếng ve phê b́nh chỉ trích, những kết án, lọai
trừ…thấp thoáng đâu đó giữa những hàng
ghế trang nghiêm thánh thiện của thánh đường
để ném về phía những người bị cho là “đến trễ”, bị gán
là “công nhân giờ thứ 11”.
-
Họ "là những người đến trễ, là
công nhân giờ thứ 11" v́ họ họ là dân dự
ṭng-tân ṭng ; họ "là những người đến
trễ" v́ họ thuộc gia đ́nh đang bị
rối giây hôn phối.
-
Họ "là những người đến trễ, là
công nhân giờ thứ 11" v́ họ bị mang tiếng có
một quá khứ không tốt lành.
-
Họ "là những người đến trễ, là
công nhân giờ thứ 11” v́ họ quá bần hàn rách nát, không
giúp được ǵ cho giáo xứ, cho cộng đoàn.
-
Họ "là những người đến trễ, là
công nhân giờ thứ 11” v́ họ là những người
ít học hay khô khan nguội lạnh không thường xuyên
tham gia sinh hoạt với cộng đoàn ;
-
Họ “là những người đến trễ, là công
nhân giờ thứ 11” v́ họ không có được
những hoàn cảnh vật chất và tinh thần thuận
lợi như bao nhiêu anh chị em khác… Thế nhưng, chúng ta dư biết
rằng : trên công trường của Giáo Hội, trong
Vườn Nho của Thiên Chúa hôm nay vần c̣n đầy
dẫy những anh chị em “là những người
đến trễ”, là “những công nhân giờ thứ 11”
như thế. Để dạy cho người Do Thái khi
xưa và để nới với cộng đoàn chúng ta hôm
nay, dụ ngôn Tin Mừng đă tŕnh bày cách ứng xử
khác thường của Thiên Chúa : Mỗi người,
sớm hay muộn, đúng giờ hay đến trễ,
cũng đều lănh được một đồng
như nhau. Phải chăng, ngụ ư của dụ ngôn
nầy đă quá rơ để chúng ta hiểu và gắng công
thực hiện: - Hăy ngước lên Thiên Chúa để học măi bài học khoan dung, quảng đại, thứ tha và yêu thương anh em như chính ḿnh. - Hăy trông về anh em xung quanh mà biết sẻ chia, cảm thông, yêu thương và kính trọng. - Hăy nh́n vào chính ḿnh để luôn khiêm hạ và sẵn sàng nhận phần thiệt tḥa cho riêng ḿnh để mà quảng đại phục vụ anh chị em. Hội Thánh hôm nay quả thật đang cần những tín hữu như thế để gương mặt Hội Thánh luôn xuất hiện như một “Vườn Nho” tươi tốt xanh mơ, với đầy muôn kỳ hoa dị thảo, một “công trường luôn đầy ắp tiếng cười vui niềm nỡ của những người thợ thắm t́nh huynh đệ" chứ không phải là một “tháp Ba-ben” với muôn ngôn ngữ bất đồng của rẽ chia, hận thù, ghen ghét ; và để cho ai đó, dù có trở về trong thời điểm trễ tràng của “giờ thứ 11,12” th́ vẫn được anh em nồng nàn đón tiếp và chia đều phần "lương bổng đậm nghĩa yêu thương." Và đó chính là điều được Thánh Phaolô hôm nay lại một lần nữa nhắc bảo cộng đoàn chúng ta : “Anh em phải ăn ở làm sao cho xứng với Tin Mừng của Đức Kitô” (BĐ 2)
Chúa nhật “Xin đừng sợ thưa vâng với Chúa Giêsu”
Vào
buổi đầu cuộc sống công khai, Satan đă
từng cám dỗ Chúa Giêsu lựa chọn con
đường cứu thế dễ dàng, thoải mái
bằng những hành vi khéo tay lạ mắt, bằng phép
lạ oai phong để dễ dàng chinh phục chớp
nhoáng và thành công đám dân đang ngong ngóng một
Đấng Cứu Thế mang dáng đứng chính trị
trần tục : Sau đó quỷ đem
Người đến thành thánh, đặt người
trên nóc đền thờ, rồi nói với Người :
“Nếu ông là con Thiên Chúa, th́ gieo ḿnh xuống đi ! V́
đă có lời chép rằng : Thiên Chúa sẽ truyền cho
thiên sứ lo cho bạn,va thiên sứ sẽ tay đỡ
tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá”.
Và
Đức Kitô đă cự tuyệt : Ngài đáp : “Nhưng cũng đă có lời
chép rằng : Ngươi chớ thử thách Đức Chúa
là Thiên Chúa ngươi”.
Trong
câu chuyện Tin Mừng thuật lại hôm nay, h́nh như
cơn cám dỗ trên lại trở về với
Đức Kitô qua thái độ của Phêrô khi Tông
đồ nầy ra tay ngăn cản Chúa khi Ngài loan báo
cuộc hành tŕnh về Giêrusalem để dấn thân vào
cuộc khổ nạn :
Ông Phêrô kéo riêng Người ra và
bắt đầu trách người : “Xin Thiên Chúa
thương đừng để Thầy gặp phải
chuyện ấy”. (Và trong lần cám dỗ nầy,
Chúa Giêsu gần như đă nổi nóng) Chúa Giêsu quay lại bảo Phêrô : “Satan lui lại
đằng sau Thầy ! Anh cản lối Thầy, v́ tư
tưởng của anh không phải là tư tưởng
của Thiên Chúa…”
Như
vậy một cách nào đó, chúng ta có thể nói
được rằng : đức tin đó chính là cuộc
“hành tŕnh về Giêrusalem”, cuộc hành tŕnh theo chân
Đức Kitô mà cốt lỏi chính là biết
thường xuyên “đặt cuộc đời ḿnh trong ư
định của Thiên Chúa”, là đặt bước chân
ḿnh trên những lối đi của Thiên Chúa, hay như ngôn
ngữ của Đức Thánh Cha Benêđictô, là “đừng
sợ thưa vâng với Chúa Giêsu”
1. Sống đức tin : “đừng
sợ thưa vâng với Chúa Giêsu”
Cho
dù “con người được dưng nên giống h́nh
ảnh của Thiên Chúa” mặc ḷng, th́ sau biến cố
Tội nguyên tổ, h́nh ảnh đó đă bị méo mó, con
người đă trở nên khác xa với Thiên Chúa, mà
cụ thể như lời trách cứ của Chúa Giêsu dành
cho Phêrô trong trích đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe : “v́ tư tưởng của anh
không phải là tư tưởng của Thiên Chúa mà của
loài người”. Nếu có dịp đọc lại
Thánh Kinh, chúng ta sẽ dễ dàng nhận thấy những
“tư tưởng lập dị, khác người của
Thiên Chúa”. Sau đây là một vài điểm “khác
người” được ghi nhận trong giai
đoạn “Xuất hành về Đất Hứa” :
- Thay v́ theo một con
đường thẳng ngắn nhất, đỡ
tốn công tốn sức,Thiên Chúa lại muốn
đưa dân ít-ra-en đi theo con đường ṿng
thật xa để tiến về Đất Hứa (Xh
13, 17-18)
- Thay v́ dạy cho họ
chiến thuật, chiến lược tác chiến và
những phương cách chính trị để thiết
định một vương quốc hùng mạnh th́ Thiên
Chúa lại ban cho họ một thứ “hiến pháp tinh
thần” chỉ để điều hợp cuộc
sống và lương tâm sao cho tốt lành, thánh thiện là
“Mười Điều Răn”.
- Thay v́ cho họ mọi
phương tiện để canh tác hoặc chiếm
hữu những cánh đồng bát ngát ph́ nhiêu, những ḍng
sông nước tuôn ngập tràn phù sa tươi tốt…th́
Thiên Chúa chỉ ban cho họ mỗi ngày một thứ Manna
nhàm chán, đơn điệu, một mạch nước
nhỏ nhoi chảy ra từ vách đá.
- Và thay v́ thíết
lập một “Dân riêng” với lănh địa bao la mịt
mùng, với quân binh thiết bị hùng cường bá
chủ, với chủ quyền trên khắp các lục địa,
biển khơi…th́ Thiên Chúa lại thiết lập một
Ít-ra-en nhỏ bé bên bờ Địa Trung Hải, mà
lịch sử hầu hết đếm bằng những
tủi nhục thương đau, đọa đầy
chia cắt, nô lệ lưu đầy…
Và
khi tới lúc “thời gian viên măn”, “ư tưởng lập
dị” đó của Thiên Chúa vẫn tiếp tục
được vận dụng :
- Trong khi dân Ít-ra-en dài
cổ mong ngóng một Đấng Mêsia xuất thân từ
cung đ́nh tráng lệ, với phủ việt và
vương trượng uy hùng, với triều thần
tiền hô hậu ủng, với vó ngựa, giáp sắt,
gươm dài…th́ Thiên Chúa đă sai đến “một em bé
khóc oa oa nằm chung với bầy súc vật mà ngày sinh
nhật của em, cha mẹ không t́m được quán
trọ tầm thường để trú ngụ qua đêm.
- Vâng Đấng Cứu
Thế đă đến từ Na-da-rét, một nơi mà tông
đồ Nathanael đă từng dè bĩu ; “Từ Na-da-rét, nào có cái ǵ hay đâu ?”, đă
xuất thân từ xưởng thợ mộc mà dân do Thái
đă từng bĩu môi khinh rẽ : “Ông ta há không phải là con bác thợ mộc
đấy sao ?” ;
- Làm sao dân Ít-ra-en có
thể chấp nhận một Đấng Mêsia trong con
người của “Vị tiên tri áo vải chân trần”
đó khi xuất hiện công khai, cho dù với 5 chiếc
bánh và hai con cá đă nuôi mấy ngàn người lại đă
phải chấp nhận đói khát và ngửa tay xin
nước của một phụ nữ Samari không mấy
chính chuyên với năm đời chồng không chính
thức : “Xin chị cho tôi
uống nước với”.
- Có thể họ
chấp nhận Đấng Cứu Thế nơi một
vị Thầy quyền năng, một tiếng phán ra
cuồng phong bảo táp phải im hơi lặng tiếng,
một lời réo gọi đă cho người chết thúi
trong mồ có thể bật dậy bước ra, có
thể đuổi cả phung cùi bệnh tật, đuôi mù
câm điếc, có thể trục xuất tà thần và
bước đi băng băng trên mặt biển…nhưng
họ sẽ không thể hiểu và không bao giờ chịu được
cái cảnh Đấng Quyền năng ấy bị
bắt, b́ kết án, bị tát vào mặt, bị lột áo
quần trần truồng để chịu sĩ nhục
tận cùng rồi phải vác thập giá lên đồi
Sọ và chịu đóng đinh giữa hai tên trộm
cướp…Chúng ta dễ dàng cảm thông thái độ
của Phêrô khi “thiệt t́nh” can ngăn Thầy “Xin Thiên Chúa thương đừng
để Thầy gặp phải chuyện ấy”…
- Nhưng đó chính là
thánh ư của Thiên Chúa, đó chính là con đường Con Thiên
Chúa đă chọn và đă đi, cho dù khi đối
diện con đường ấy, thánh ư ấy, Ngài cũng
đă phải khắc khoải đến tận cùng khi
những giót máu ứa ra theo những giọt mồ hôi hoang
mang lo sợ : “Xin cho con
được khỏi uống chén nầy. Nhưng xin
dừng theo ư Con một xin vâng ư Cha”.
Đức
Kitô đă chiến thắng nổi hoang mang sợ hải và
đă can đảm “thưa vâng” ; và cũng nhờ thế,
hồng ân cứu độ, vinh quang Phục sinh đă
chảy tràn trên thế giới, giải thoát thân phận nô
lệ, tội lỗi tăm tối của loài
người để bước vào ánh vinh quang phục
sinh.
Nào
chẳng phải Đức Kitô đă từng tuyên bố :
“Thầy là Đường, là Sự Thật và là Sự
Sống”. Chúng ta phải hiểu : Đường đó là Đường
từ Máng cỏ Bê lem tới Thập Giá Đồi Sọ,
Sự Thật đó là Sự Thật của “Tám Mối :
tinh thần khó nghèo, ḷng trong sạch, đức yêu
thương, hiền lành, bàn tay xây dựng ḥa b́h công lư… và
Sự Sống đó là Sự sống “canh tân và sám hối,
biến h́nh và phục sinh bắt nguồn từ Cuộc
Vượt Qua của chính Đấng đă yêu
thương đến tận cùng, đă hy sinh tận
hiến, đă chết và sống lại.
Chúng
ta đừng ảo tưởng sẽ có một con
đường cứu độ khác đẹp hơn,
dễ thở hơn, nhẹ nhàng hơn, vinh quang
hơn…Khước từ con đường của
Đức Kitô, né tránh sự lựa chọn của
Đức Kitô chính là “cản ngăn ư định của
Thiên Chúa, là thỏa hiệp với Sa Tan”. Ư nghĩa đó
phải chăng đă cô đọng và âm vang trong tiếng
hét đầy tức giận của Chúa Giêsu dành cho Phêrô : “Satan hăy
lui sau Thầy !”.
2. Sông đức tin : hăy can
đảm nói “không” và nói “có” :
Đă
hai ngàn năm rồi, Hội Thánh không ngừng học măi
bài học hôm nay : bài học “đi lên Giêrusalem” của
Thầy Chí Thánh ; và tuy có đôi lúc, đôi nơi, Hội
Thánh quên đi bài học đó để dừng lại
chạy theo những “ông thầy” của thế gian, th́
Hội Thánh lại được Chúa Thánh Thần lên
tiếng cảnh báo, nhắc thầm, qua bao nhiêu dấu
chỉ, con người, huấn dụ… Đặc biệt
với những h́nh tượng sống động là ḍng
chảy không ngừng của các Thánh nhân với đông
đảo chứng nhân anh hùng
tử đạo, các thánh hiển tu, ẩn tu, đồng
trinh, các người cha, người mẹ thánh thiện,
các thanh niên thiếu nữ quảng đại, những
thiếu nhi trong sạch, can đảm…Vâng kể từ
Vị tử Đạo đầu tiên Stêphanô bị ném
đá chết trên chính quê hương của Đấng
Cứu Thế, rồi đến lượt “Người
Ngư Phủ” Phêrô bị đóng đinh ngược
đầu trên đồi Vatican, Dân Chúa tiếp tục
chọn lựa con đường của Đức Kitô,
Con đường Thập Giá mà những Agata, Lucia, Lorensô…của
những thế kỷ đầu tiên, cho đến Phanxicô
Assisi, Anrê Phú yên, Tôma Thiện, Anê Thành, Gioan Vianey, Maria Goretti,
Têrêxa hài Đồng, Maximiliannô Kolbê, Mẹ Thánh Têrêxa Calcutta,
Giám mục Rômêrô…đă không ngừng noi gương đi
trước.
Chính
v́ thế, sống đức tin hôm nay đó chính là :
- Dám nói “không”
trước những mời mọc của sự giàu có
thế gian mà tiền bạc của cải là kết
quả của những đầu tư bất chính,
bởi gian dối mánh mung… để sẵn sàng vươn
lên bằng nước mắt mồ hôi của chính ḿnh,
với cần cù liêm chính nơi bàn tay, khối óc…
- Dám can đảm nói
“không” trước những mời mọc của xác
thịt đam mê, của ngoại t́nh ly dỵ… để trung
thành bảo vệ cương thường luân lư của
đời sống hôn nhân gia đ́nh, để thủy
chung son sắt với những lời cam kết trong ngày
lănh bí tích Bí Tích Hôn nhân .
- Dám nói “không”
trước những dối trá lọc lừa, mánh mung
bất chính, cho dù phải chấp nhận thua lỗ
hoặc bị trù dập, chụp mũ, loại trừ
chỉ v́ dám sống thanh liêm chính trực…
- Dám nói “không”
trước những ươn lười hưởng
thụ ích kỷ, t́m kiếm an nhàn, né tránh bận bịu
vất vả nhọc mệt, để quảng
đại dấn thân phục vụ trong tăm tối,
ẩn khuất và đôi khi chấp nhận thiệt tḥa, nguy
hiểm, thương đau.
Cũng
vậy. Sống đức tin hôm nay là không ngừng
biết “sẵn sàng nói “Có”.
- Là sẵn sàng nói có
bằng đôi tay nhiệt thành phục vụ công ích,
bằng ánh mắt vui tươi để sẻ chia và
cảm thông, bằng trái tim bao dung để thứ tha và
chấp nhận.
- Là sẵn sàng nói “có” khi
hành động như lời kinh ḥa b́nh của Thánh Phanxicô
Khó khăn :
t́m an ủi
người hơn được người ủi an,
hiểu biết người hơn được
người hiểu biết, yêu mên người hơn
được người mến yêu…
- Là sắn sàng nói “Có”, khi
biết không ngừng đón nhận mọi đắng cay
bệnh hoạn, thất bại, tủi buồn trong
niềm tin yêu phó thác…
Phải
chăng đó chính là điều mà Thánh Phaolô trong trích
đoạn thư Rôma hôm nay đă nhắc khéo chúng ta
bằng những lời thâm thúy : “hăy hiến dâng thân ḿnh làm của lễ sống
động, thánh thiện và đẹp ḷng Thiên Chúa…Anh em
đừng có rập theo đời nầy nhưng hăy
cải biến con người…hầu nhận ra thánh ư Thiên
Chúa…”
Trong
một thế giới mà sự “rập khuôn theo tinh
thần thế tục” đang có nguy cơ chiếm lĩnh
nhiều tâm hồn, đặc biệt tâm hồn các
bạn trẻ, sứ điệp Lời Chúa hôm nay là
một lời mời gọi khẩn thiết và cũng là
một ánh sao soi đường dẫn lối để
chúng ta cùng dơi bước đi lên.
Và
cho dù chúng ta thoáng thấy ở cuối “cuộc hành tŕnh lên
Giêrusalem” đó chính là thập giá, là khổ nạn, th́
cũng vẫn sắt son trung thành và tin tưởng
để thân thưa với Chúa bằng tất cả trái
tim nồng nàn tin yêu như ngôn sứ Giêrimia đă phát
biểu trong Bài đọc 1 hôm nay : “Lạy Đức Chúa, Ngài đă quyến rũ con và
con đă để Ngài quyến rũ…Lời Ngài như
ngọn lửa bừng cháy trong tim con…”
Và
con đường “lên Giêrusalem” lại phải bắt
đầu ngay hôm nay, giờ nầy, để xây dựng
một thế giới mới đang cần
được tái tạo bởi những “ngôn sứ
mới của Tin Mừng như lời của ĐTC
Bênêdictô nói với giới trẻ trong bài giảng bế
mạc Ngày Thế Giới giới trẻ tại Sydney vừa
qua :
“Các bạn trẻ thân mến, Chúa
Kitô đang yêu cầu chúng con trở thành những ngôn
sứ cho thời đại mới này, trở thành
những sứ giả của t́nh yêu Chúa, có khả năng
thu hút con người đến với Thiên Chúa Cha và xây
dựng một tương lai đầy hy vọng cho toàn
thể nhân loại. Thế giới đang cần
đến sự canh tân này! Tại nhiều xă hội chúng
ta, bên cạnh sự thịnh vượng vật chất,
mỗi lúc một lan rộng thêm sa mạc thiêng liêng:
một sự trống rỗng nội tâm, một nỗi
sợ không thể diễn tả, một cảm thức
thất vọng ngấm ngầm. Thử hỏi có biết
bao người đồng thời chúng ta giống như
những thùng nước bị nứt và khô trống (Gr
2:13) đang đi t́m cách tuyệt vọng ư nghĩa cuộc
đời, đi t́m ư nghĩa cuối cùng mà chỉ có t́nh
yêu mới có thể ban cho? Đây là một hồng ân cao cả
và có sức giải phóng mà Phúc Âm mang đến: hồng ân
biểu lộ phẩm giá của chúng ta như là những
con người nam nữ được tạo dựng
theo h́nh ảnh và giống với Thiên Chúa. Hồng ân
mạc khải ơn gọi cao cả của nhân loại,
một ơn gọi t́m gặp sự thành toàn trọn
vẹn trong t́nh yêu thương. Hồng ân phơi bày sự
thật về con người và sự thật về
sự sống.
Giáo Hội cũng cần
đến sự canh tân này! Giáo Hội cần đức
tin của chúng con, cần tinh thần lư tưởng hoá và
ḷng quảng đại của chúng con, để Giáo
Hội được luôn tươi trẻ trong Chúa Thánh
Thần (x.Lumen Gentium, số 4)! …. Hăy mở rộng tâm
hồn chúng con đón nhận sức mạnh này! …. Xin đừng sợ thưa Vâng
với Chúa Giêsu. Chúng con đừng sợ t́m gặp
niềm vui trong việc thực hành Thánh Ư Chúa, vừa
hiến thân trọn vẹn để đạt
đến sự thánh thiện vừa đồng thời
sử dụng những tài năng chúng con phục vụ tha
nhân!”
Trương
Đ́nh Hiền
|