MỤC VỤ LỜI CHÚA
PHỤNG VỤ LỜI CHÚA Chúa Nhật Thường Niên
|
CHÚA NHẬT THEO NĂM PHỤNG VỤ NĂM B THƯỜNG NIÊN |
BÀI GIẢNG THAM KHẢO |
|
CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN (B) “tôi không c̣n một đồng xu ten nào cả để cho”. Dẫn nhập đầu lễ : Anh chị em thân mến, Thánh Giacôbê đă từng dạy bảo : “Đức tin không việc làm là đức tin chết”. Việc làm của đức tin mà sứ điệp phụng vụ đề nghị với cộng đoàn chúng ta hôm nay đó chính là biết sẵn sàng sẻ chia, biết cho đi, cho dù là một chút nhỏ bé nhưng phải đong đầy ḷng mến. H́nh tượng bà góa Sa-rep-ta chia sẻ chút bột để làm tấm bánh cuối cùng cho tiên tri Ê-li-a, hay bà góa ở Pa-les-tin bỏ một đồng xu nhỏ vào ḥm tiền dâng cúng chính là những gương mặt “điển h́nh” mà Lời Chúa giới thiệu để chúng ta cùng suy nghĩ và thực thi. Giờ đây, chúng ta hăy thành tâm sám hối để xứng đáng cử hành mầu nhiệm thánh.
Giảng lễ :
Trong bài luận văn được dư luận xôn xao ca ngợi của cô nữ sinh lớp 10 chuyên văn Hà Minh ngọc với tựa đề “Bản chất của thành công”, có một đoạn : “Con người luôn khát khao thành công, nhưng mù quáng theo đuổi thành công th́ thật là vô nghĩa. Bạn muốn ḿnh giàu có, muốn trở thành tỷ phú như Bill Gates? Vậy th́ hăy gấp đồng tiền một cách cẩn thận rồi trao nó cho bà cụ ăn xin bên đường. Với việc làm đẹp đẽ ấy, bạn sẽ cho mọi người hiểu được bạn không chỉ giàu có về vật chất mà c̣n giàu có tâm hồn. Khi đó, bạn đă thực sự thành công.” Suy nghĩ trên của cô nữ sinh quả thật thấm đẫm tinh thần của Tin Mừng, và mang trọn ư nghĩa giáo huấn của chính Chúa Giêsu, Đấng mà trong Tin Mừng hôm nay đă thấy cái giá trị tuyệt vời trong “đồng xu nhỏ” của một bà góa nghèo khi lên tiếng dạy bảo các môn sinh : “Thầy bảo thật anh em : bà góa nầy đă bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Quả vậy, mọi người đều lấy tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó ; c̣n bà nầy đă túng thiếu, lại c̣n bỏ vào đó tất cả những ǵ bà có, tất cả những ǵ để nuôi thân”. Như vậy điều đầu tiên mà chúng ta hôm nay có thể học hỏi từ Lời dạy bảo của Thiên Chúa đó chính là :
1. Cái vĩ đại, cái cao cả chính là biết sẻ chia : Quả vậy, làm sao chúng ta biết Thiên Chúa toàn năng, Thiên Chúa cao cả, Thiên Chúa vĩ đại, nếu Thiên Chúa muôn đời tự khép kín chính ḿnh trong cái cơi u minh huyền diệu ? Công tŕnh tạo dựng huy hoàng hùng vĩ mà bao nhiêu Thánh vịnh đă hát lên chính là sự sẻ chia của Thiên Chúa : “Lạy Chúa là Thiên Chúa con thờ, Chúa muôn trùng cao cả! Áo Ngài mặc : toàn oai phong lẫm liệt, Cẩm bào Ngài khoác : muôn vạn ánh hào quang. Tầng trời thẳm Chúa căng như màn trướng, Điện cao vời, dựng trên đáy nước mênh mông…” (Tv 104,1-3) Thiên Chúa tạo dựng chính là Thiên Chúa chia sẻ vinh quang và quyền năng của Ngài để thông ban ơn phước cho hết thảy chúng sinh, hầu nhờ đó mà hiện hữu và tồn tại : “Hết mọi loài ngữa trông lên Chúa Đợi chờ Ngài đến bữa cho ăn. Ngài ban xuống chúng lượm về, Ngài mở tay, chúng thỏa thuê ơn phước. Chúa ẩn mặt đi, chúng rụng rời kinh hải, Lấy sinh khí lại, là chúng tắt thở ngay Mà trở về cát bụi… (Tv 104, 27-29)
Và khi chương tŕnh cứu độ đă “tới lúc măn kỳ”, Thiên Chúa đă thể hiện một cuộc sẻ chia vô tiền khoáng hậu : Trao ban Con Một” làm Đấng Cứu độ trần gian. “Thiên Chúa đă yêu thế gian đến đổi đă ban Con Một, để ai tin vào Con của Người th́ khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16) Và hành vi cao cả vĩ đại nhất sau cùng của Thiên Chúa lại là việc chính Người Con Một sắn sàng vác thập giá lên đồi Sọ và dang tay chịu đóng đinh để sẻ chia từng giọt máu làm hy lễ cứu độ con người. Sự cao cả của t́nh yêu trao ban và tận hiến : “Không có t́nh yêu nào cao cả hơn t́nh yêu của người đă hy sinh tính mạng v́ bạn hữu của ḿnh.” (Ga 15,13) Chính v́ thế, hành vi sẻ chia, trao ban, tận hiến, biết cho đi trong quảng đại và tự nguyện, trong yêu thương và kính mến, chính là những hành vi biến con người trở nên có giá trị, trở nên cao cả. Sở dĩ công nương Diana được thế giới ngưỡng mộ, tôn vinh khi nàng vừa nằm xuống bởi một tai nạn xe thảm khốc, chẳng phải v́ nàng sống giàu sang vương giả và ích kỷ tham lam trong nhung lụa của vương triều, hay v́ nàng sống bất trung với cam kết của bí tích hôn nhân khi ly dị chồng để được tự do thoải mái…mà chính v́ thời gian trước khi chết công nương đă dành cuộc sống, uy tín và cả tài sản bênh vực sự sống con người, chống lại những vũ khí giết người và đe dọa cuộc sống b́nh yên của nhân loại như ḿn cá nhân, vũ khí nguyên tử… Cũng thế, nếu nữ tu Têrêsa Calcutta cứ ung dung lớn lên, học thành tài, lấy chồng sinh con đẻ cái như bất cứ thiếu nữ Albani nào…th́ cuộc sống của Mẹ sẽ muôn đời ch́m sâu giữa ḷng lịch sử và thế giới sẽ chẳng bao giờ có được danh xưng “mẹ Tê-rê-sa thành Calcutta”. Không, Mẹ đă trở thành vĩ nhân của thế kỷ 20, thành Thánh Nhân của cộng đoàn Dân Thánh Chúa chính v́ Mẹ đă biết sẻ chia cuộc đời, sự sống và t́nh yêu cho những người bất hạnh, cho những bệnh nhân, cho những trẻ em mồ côi không ai chăm sóc. Và chính khi biết cho đi, biết chia sẻ, chúng ta lại khám ra rằng :
2. Cho anh em chính là cho Thiên Chúa, là cọng tác vào chương tŕnh kỳ diệu của Chúa Nếu bà góa Sa-rep-ta đóng cửa nhà để một ḿnh sử dụng chút bột và chút dầu cuối cùng c̣n lại mà không biết quảng đại sẻ chia cho tiên tri Ê-li-a, chắc chắn bà đă chết đói như bao người ở Sa-rep-ta trong cơn đại hạn năm ấy và Thiên Chúa lại phải đợi chờ. May mắn, bà đă chia sẻ chút lương thực cuối cùng đó cho “Người của Thiên Chúa”, nên “hũ bột của bà đă không vơi và ṿ dầu đă không cạn”, c̣n tiên tri Ê-li-a có đủ sức mạnh và quyền uy để phục sinh đứa con trai chết yểu của bà góa và chu toàn công tác bài trừ tà đạo Ba-an trên núi Các-men, lập lại cương thường của tôn giáo Cha Ông. Chúng ta cũng có thể nói được rằng : nhờ chính ḍng sửa thơm của người thôn nữ Maria ở Na-da-rét, nhờ những giọt mồ hôi của bác thợ mộc Giuse mà hài nhi Giêsu đă lớn lên đầy khôn ngoan và ân sủng ;…và sau nầy khi đă vào đời sống cuộc công khai, phải chăng nhờ những miếng cơm manh áo của những người phụ nữ đạo đức “đi theo”, nhờ những bữa cơm đạm bạc của gia đ́nh Bê-ta-ni-a, nhờ chiếc thuyền chài của Simon Phêrô, nhờ ông Si-mê-on kề vai vác đỡ thánh giá, nhờ tấm khăn của người phụ nữ Vê-rô-ni-ca lau mặt trên con đường lên núi Sọ…mà Đức Kitô đă đi trọn con đường vượt qua để đem về chiến thắng cho Thiên Chúa cũng như cho cả loài người. Chính trong ư nghĩa nầy chúng ta mới hiểu được những lời của Đức kitô phán dạy trong dụ ngôn “Ngày phát xử cuối cùng” : “Ta bảo thật các ngươi : mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của ta đây, là các ngươi đă làm cho chính Ta vậy “ (Mt 25,40) Mà Chúa nào có đ̣i chúng ta phải làm những chuyện chọc trời khuấy nước, những chiến tích lừng danh, những đóng góp phải thật to, thật nhiều…th́ mới kể là có giá trị. Không, chính Chúa đă xác quyết rằng : “dù chỉ một chén nước lă thôi…người đó sẽ không mất phần thưởng đâu” (Mt 10,42), hay như trong Tin mừng Mác-cô vừa được công bố : Thầy bảo thật anh em : bà góa nầy đă bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết…” dù chỉ với “hai đồng tiền kẻm” Thế nhưng, trong chúng ta cũng không thiếu ǵ người, cho dù chỉ một đồng xu ten cũng vẫn khư khư ôm thật chặt, v́ họ sợ rằng, nếu cho đi họ sẽ chẳng được ǵ, sẽ chẳng c̣n ǵ.
3. Đừng hẹp ḥi, thiếu tin tưởng : V́ : - Ta xin : một bông hoa : Chúa cho ta cả rừng hoa. - Ta xin : một giọt nước : Chúa cho cả đại dương. - Ta xin một hạt cát : Chúa cho cả sa mạc - Ta xin một lá cỏ : Chúa cho đồng cỏ xanh - Ta xin cho vài người lót dạ qua đêm với vài con cá và mấy tấm bánh nhỏ : Chúa sẽ đăi no nê mấy vạn người với ê hề cá ngon và bánh thơm. - Ta xin chỉ vài lít rượu xoàng để đám cưới khỏi hoang mang bẽ mặt v́ “thiếu rượu”, th́ Chúa sẽ đong đầy hằng mấy trăm lít rượu ngon hăo hạng. - Ta xin được phục hồi một thân xác bất toại, Chúa sẵn sàng chữa lành cả linh hồn và thể xác. - Ta xin bánh ḿ, của ăn phần xác : Chúa sẵn sàng cho ta cả thịt máu là lương thực trường sinh. Và giờ đây, quả thật Chúa đang cho ta bánh hằng Sống chính là Thịt Máu Ngài.
4. Và trong cuộc sống hôm nay, liệu chúng ta có ǵ để cho đi và chia sẻ ? Nào, chúng ta thử t́m những quà tặng đẹp nhất mà ḿnh có thể sẻ chia : - Nếu thật sự có kẻ đang oán thù ta : ta hăy cho họ ḷng tha thứ - Điều bạn bè thật sự cần đến ta : ta hăy cho họ sự trung thành - Cho dù các em thơ không đ̣i hỏi phải xin ǵ : th́ ta hăy luôn cho những gương sáng - Và hăy cho người cha : ḷng hiếu thảo kính tôn - Hăy sẻ chia cho mẹ : trái tim nhân ái diệu hiền - Vợ hăy sẻ chia với chồng, và chồng hăy trao ban cho vợ sự hy sinh, thông cảm, đỡ nâng và ḷng chung thủy. - Chúng ta hăy cho hết mọi người : đôi tay phục vụ… - Và một khi thời gian đem ta đến tuổi già bóng xế, thân xác hao ṃn tiều tụy, bệnh tật héo hon…chúng ta hăy trao cho Chúa tất cả cuộc đời với tâm t́nh khiêm hạ khó nghèo : “Lạy Chúa nầy con xin đến để thực thi ư Chúa”. Phải chăng, đó chính những “chút bột sẽ không bao giờ vơi, b́nh dầu không khi nào cạn” của bà góa Sa-rep-ta, hay cũng chính là những “đồng xu ten của bà góa nghèo” ở Pa-les-tin sẽ trở thành những hành trang quí giá giúp ta cọng tác vào chương tŕnh cứu độ và đưa ta vào bàn tiệc hạnh phúc Nước Trời. Như thế, không ai có thể nói rằng : “tôi không c̣n một đồng xu ten nào cả để cho”.
CHÚA NHẬT XXX THƯỜNG NIÊN (B) Ai thực sự là kẻ mù ḷa ? Dẫn nhập đầu lễ : Qua các chỉ dẫn của Lời Chúa sắp được công bố, chúng ta có thể t́m thấy trọng tâm của sứ điệp phụng vụ hôm nay đó chính là : đức tin, một cuộc lên đường tiến về ánh sáng. Nói cách khác, Lời Chúa hôm nay gọi mời chúng ta hăy biến cuộc hành tŕnh đức tin thành một cuộc “hội ngộ” với Đức Kitô là nguồn ánh sáng, hăy mau mắn thực hiện cuộc đổi đời từ bóng tối của đui mù lầm lạc tội lỗi tiến về “chân trời cứu độ” ngập tràn rạng rỡ tin yêu. Thánh lễ hôm nay vừa là một gọi mời vừa là một cơ hội để chúng ta một lần nữa đặt niềm tin vào Thiên Chúa, một Thiên Chúa “đă cứu thoát dân Người”, một lần nữa tiến về gặp gỡ Đức Kitô, một Đức Kitô sẵn sàng đưa mắt đoái thương và chữa lành những thân phận “Bar-ti-mê” mù ḷa bất hạnh. Giờ đây, chúng ta hăy nh́n nhận tội lỗi để xứng đáng cử hành Thánh lễ. Giảng Lời Chúa : 1/. Đức tin : một chọn lựa trước hai ngă đường : ánh sáng hay bóng tối. Nổi bi đát nhất của một tù nhân đó là ngày vĩnh viễn bị ném vào ngục tối để không c̣n được nh́n thấy ánh sáng của ban ngày ; và giây phút kinh hoàng nhất của môt tên tử tội là phút giây đợi chờ hành quyết để vĩnh biệt ánh sáng cuộc sống dương gian và bị đẩy vào đêm đen của miền âm u sự chết ! Quả thật, Ánh Sáng – Bóng Tối đó là hai đối cực tượng trưng cho hai cuộc sống, hai thế giới, hai lănh vực hoàn toàn đối nghịch nhau, cách xa nhau, triệt tiêu nhau. Và trong ngữ nghĩa Kinh Thánh, ánh sáng là tượng trưng cho chân lư và sự sống, cho vinh quang Thiên Chúa, cho niềm tin yêu hy vọng, cho ơn cứu độ…C̣n bóng Tối là quê hương của lầm lạc, tội lối, ma quỷ, gian ác. Nếu Thiên Chúa ngay từ đầu đă dựng nên ánh sáng như thực tại đầu tiên của công tŕnh sáng tạo : “Thiên Chúa phán : hăy có ánh ánh, ánh sáng liền có !” (St 1,3) ; th́ vào chiều Thứ Sáu, đỉnh cao của tội lỗi loài người : khi Con Chúa bị giết chết trên đồi Sọ th́ bóng tối đă bao trùm không gian : “Bấy giờ đă gần tới giờ thứ sáu, thế mà bóng tối bao phủ khắp mặt đất, măi đến giờ thứ chín. Mặt trời tối đi” (Lc 23,44-45). Chính v́ thế, các Sứ ngôn không ngần ngại loan báo viễn tượng về một “ngày mai rực sáng của thời đại Thiên Sai” để bỏ lại những ngày “lưu đầy sống kiếp lầm than lầm lũi bước đi trong miền âm u tử địa” (Is 9,1) : “Nầy Ta sẽ đưa chúng từ đất Bắc trở về, qui tụ chúng lại từ tận cùng cơi đất. Trong chúng, có kẻ đui, người què, kẻ mang thai, người ở cữ : tất cả cùng nhau trở về, cả một đại hội đông đảo…” (Gr 31,8), BĐ 1). Và khi thời Tân ước đến, Thánh Gioan đă không ngần ngại gọi Đức Kitô là “ánh sáng cho nhân loại, ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối không diệt được ánh sáng…là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người” (Ga 1, 3-9), hay cụ thể như cuộc chữa lành của Đức Kitô dành cho anh chàng mù Bar-ti-mê mà Tin Mừng Mác-cô tường thuật hôm nay : “Ḷng tin của anh đă cứu chữa anh !”. Tức khắc, anh ta nh́n thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi”. (Mc 10, 52). Đức tin, tiên vàn đó chính là sự chọn lựa đi về hướng của ánh sáng, tiến về quê hương của Thiên Chúa, miền “Đất Hứa” của cuộc tái sinh, là tiến bước trên lộ tŕnh của Đấng là Đường, là Chân lư, là ánh sáng…Rẽ lối khác với con đường nầy, thụt lùi lại với “củ hành củ tỏi Ai Cập” là dấn bước vào kiếp sống nô lệ tội lỗi, là ở lại trong bóng tối của đui mù lầm lạc. Nếu có lần nào trong cuộc sống, v́ yếu đuối và lầm lạc tôi đă chọn đi trên nẽo đường của bóng tối tội lỗi, của nô lệ đam mê và dục vọng, của ích kỷ hận thù, nhỏ nhen và ghen ghét…th́ hôm nay tôi phải quay đầu trở lại, chọn đi trên nẽo đường của ánh sáng, của Tin Mừng, của yêu thương và phục vụ, của bao dung và tha thứ, của khiêm nhu và quảng đại… 1. Để chọn lựa ánh sáng phải “vứt bỏ áo choàng mạnh mẽ đứng lên…” Ánh sáng có rực sáng bao nhiêu, ban ngày có rạng thế nào, th́ đối với người mang đôi mắt mù, tất cả cũng chỉ là bóng tối. Cũng vậy, Thiên Chúa có toàn năng làm sao, có nhân hậu thế nào, và ơn cứu độ của Ngài có quí giá cần thiết mấy chăng nữa, mà con người không có được “đôi mắt sáng đức tin” th́ măi măi cũng tự giam hảm cuộc sống trong đui mù lầm lạc. Chính v́ thế, điều quan trọng đầu tiên để có được ánh sáng, để nh́n thấy ánh sáng đó chính là biết khát khao cầu nguyện như anh chàng mù Bar-ti-mê ngày nào :“Lạy Thầy, xin cho tôi nh́n thấy được”. Quả thật, tất cả chúng ta đều cần được chữa lành để có “đôi mắt nh́n thấy được”, tức là đôi mắt của ḷng tin, cậy mến, là đôi mắt của ḷng khiêm hạ, sám hối ăn năn, là đôi mắt của trái tim yêu thương quảng đại. Để có được “đôi mắt sáng thiêng liêng” nầy, ngoài hồng ân nhưng không đến từ Thiên Chúa, chúng ta c̣n phải gắng sức thanh lọc cái nh́n, gột rửa phán đoán, tẩy trừ thiên kiến, để ánh nh́n về Thiên Chúa và nh́n đến anh em càng ngày càng rơ nét hơn, trong sáng hơn, chính xác hơn. Cũng chính v́ mang nặng những chiếc “mặt nạ cồng kềnh”, những “đôi kính đen” của giả h́nh, kiêu căng, hợm hĩnh, đầy đố kỵ ghen ghét hận thù, mà với với bao nhiêu dấu lạ cả thể, như với dấu lạ “người mù từ lúc mới sinh được sáng mắt” trong chuyện kể của Tin mừng Gioan (Ga 9 28-34), những ông biệt phái vẫn không nhận ra “Đấng Thiên Sai Cứu Thế nơi con người Giêsu Na-da-rét” để cuối cùng hè nhau đóng đinh Ngài vào thập giá : “Kể cũng lạ thật ! Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đă mở mắt tôi”. Trong khi đó, người mù vừa được chữa lành, bằng một đức tin đơn sơ khiêm hạ, lần đầu tiên diện kiến đă “quỳ xuống thân thưa : “Lạy Ngài Con Tin”. (Ga 9,38). Sống và thể hiện niềm tin, phải chăng đó là biết không ngừng vứt bỏ “chiếc mặt nạ cồng kềnh”, “đôi kính đen tăm tối”, “tấm áo choàng hôi hám cũ ṃn” của cái tôi tội lối, biếng lười, gian dối, ích kỷ, ghen ghét, tham lam…và bao nhiêu tính hư tật xấu khác, để mang lấy “đôi mắt mới của Thiên Chúa”, chiếc áo mới của Đức Kitô là niềm tin sống động, đức cậy vững bền, đức ái cụ thể, với cơi ḷng sám hối khiêm hạ, với nhiệt t́nh phục vụ yêu thương, với quyết tâm hy sinh từ bỏ…H́nh ảnh anh chàng mù Bar-ti-mê “vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà lao đến gần Đức Giêsu” đă minh họa rơ nét thái độ đức tin nầy. Vâng, phải mạnh mẽ đứng lên, phải nhanh chân lao về phía trước, phải biết mở ḷng ra, phải biết quỳ xuống, phải gặp gỡ Thiên Chúa, phải đối diện với Đức Kitô, phải để Ngài chạm đến. Đó chính là tiếng kèn giục giă của bao mùa phụng vụ, bao ngày Chúa Nhật, của bao “dịp thuận tiện và ngày cứu độ” đă đi ngang qua cuộc đời của mỗi người chúng ta. Mà Thiên Chúa nào ở đâu xa lạ : Ngài có đây trong bí tích Thánh Thể, Ngài có đây, trong cuộc họp mặt cầu kinh của gia đ́nh, Ngài có đây nơi Ṭa Giải tội, Ngài có đây, nơi tràng hạt Mân Côi, Ngài có đây nơi những người ăn xin ta gặp hằng ngày, Ngài có đây trong những nghĩa cử hy sinh và chung thủy của vợ chồng, trong vâng lời hiếu thảo của con cái, trong tha thứ khoan dung của bạn bè…Ngài có đây trong những phục vụ âm thầm nhưng chan chứa yêu thương khiêm hạ, những quyết tâm đầy can đảm nói “không” trước những cám dỗ của ươn lười xác thịt… Tóm lại, cuộc sống đức tin, cuộc hành tŕnh tiến về vĩnh cửu chỉ thực sự có giá trị, chỉ thực sự đứng hướng và chắc chắn đạt tới cùng đích, khi chúng ta biết tiến bước trên lộ tŕnh của Thiên Chúa, theo vết chân của chính Đấng Là Đường, là chân lư, là Ánh sáng cho trần gian, biết mở mắt quan chiêm các kỳ công của t́nh yêu Thiên Chúa phản ảnh qua muôn vạn biến cố đời thường để dâng lên lời ca khen chúc tụng. Lời kể của một bà mẹ sau đây muốn chứng minh diều đó : Tôi có một đứa con mù từ lúc mới sinh. Khi cháu được 20 tháng, lần đầu tiên tôi đưa cháu đến một siêu thị. Cứ vài bước, nó lại dừng lại để lắng nghe những tiếng động chung quanh: tiếng chân của những người đi bộ, tiếng xe chạy, tiếng chim đang hót, tiếng gió mát từ xa thổi đến… Trên đường về, tôi nhận thấy con tôi vui vẻ rộn ră hơn bao giờ hết. Nụ cười của nó nói với tôi rằng buổi sáng hôm đó là buổi sáng đẹp nhất đối với nó v́ nó đă khám phá được những điều mới mẻ kỳ diệu. Riêng tôi, tôi tự hỏi: con tôi và tôi, ai thực sự là kẻ mù loà ? (Chờ đợi Chúa) Mà cho đến hôm nay, nếu đúng tôi là một kẻ mù ḷa, th́ cũng không có ǵ để thất vọng, không lúc nào bị chối từ v́ đến trễ, bởi v́ Đức Kitô, “Vị Thượng Tế hằng biết cảm thương những nổi yếu hèn của chúng ta” (BĐ 2) sẽ “trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người” (Dt 5,7-10), là Đấng luôn đưa mắt, hướng tai về phía của những người bất hạnh như anh chàng mù ăn xin bên vệ đường Bar-ti-mê để dơng dạc công bố một Tin Mừng : “Anh hăy đi, ḷng tin của anh đă cứu anh !”. Chúng ta cũng sẽ nhận được tin vui như thế trên từng cây số cuộc đời khi chúng ta biết “vứt áo choàng, đứng lên và lao thẳng về phía của Ngài với niềm tin yêu trông cậy”.
GiuseTrương Đ́nh Hiền CHÚA NHẬT TRUYỀN GIÁO Hăy dùng con như khí cụ b́nh an của Chúa… 1. Thử trở về với cội nguồn xuất phát. Kể từ buổi sáng tinh mơ “Ngày Thứ Nhất trong tuần”, trên con đường vắng ở Giêrusalem vang động duy nhất bước chân vội vă đầy hoang mang lẫn vui mừng của cô Maria Mađalêna chạy về báo tin Chúa Phục Sinh cho các tông đồ, th́ cho đến hôm nay, trên mọi nẻo đường thế giới, đă có hàng triệu triệu bước chân hân hoan ra đi rao giảng Tin Mừng Chúa sống lại. Cái mệnh lệnh năm nào của Thầy Chí Thánh : “Anh em hăy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin mừng cho cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16,15), tưởng đâu sẽ bị rơi vào quên lăng khi ngay từ thuở ban đầu đă bị vùi dập te tua bởi các thế lực Do Thái giáo, như sách Công vụ tông đồ ghi lại : “Họ cho gọi hai ông vào và tuyệt đối cấm hai ông không được lên tiếng hay giảng dạy về danh Đức Giêsu nữa” (Cv 4,18) ; “Chúng tôi đă nghiêm cấm các ông không được giảng dạy về danh ấy nữa, thế mà ḱa các ông đă làm cho cả Giêrusalem ngập đầy giáo lư của các ông, lại c̣n muốn cho máu người ấy đổ trên đầu chúng tôi” (Cv 5,28), đă mau chóng trở thành hiện thực, một hiện thực mà chỉ với năng lực của loài người chắc chắn sẽ không bao giờ với tới. Và thế rồi, không chỉ Giêrusalem “ngập đầy giáo lư của các tông đồ”, mà sau đó lần lượt cả đế quốc Rôma và cho đến hôm nay đă có hơn 1/3 nhân loại trên thế giới nhận biết Chúa Giêsu và giáo lư do các Tông Đồ rao giảng. Như thế, phải chăng, những lời tiên báo từ ngàn xưa của các tổ phụ, các sứ ngôn đă ứng nghiệm : “Tiếng chúng đă vang dội khắp hoàn cầu và thông điệp loan đi tới chân trời góc biển” (Tv 18). Tuy nhiên, thành quả đó, công tŕnh Phúc âm hóa tưởng đâu dễ như trở bàn tay v́ có Chúa Thánh Thần hướng dẫn và tác động đó, lại là kết quả của bao đau thương và vất vả, của bao nước mắt và mồ hôi của bao máu xuơng và hy sinh ngút ngàn của muôn thế hệ tông đồ, thừa sai, những người đă dấn thân thực thi đến tận cùng mệnh lệnh của Thầy chí Thánh đến độ đă tâm niệm một cách gần như cuồng tín kiểu Tông đồ Phaolô : “Khốn cho tôi nếu tôi khổng rao giảng Tin Mừng” . Hay đầy chất lăng mạn, lư tưởng như một Têrêsa Hài Đồng Giêsu, một nữ tu âm thầm trong tu viện thanh vắng : “Lạy Chúa, con ước ao đi dọc ngang khắp thế giới, để rao giảng thánh danh Chúa và cắm cờ hy vọng vào thánh giá vinh quang Chúa trong lănh thổ dân ngoại. Rồi nữa, một miền truyền giáo mà thôi không đủ cho con. Con muốn cùng một lúc được truyền bá Phúc âm của Chúa khắp thế giới, kể cả những hải đảo heo hút nhất. Con muốn trở thành một nhà thừa sai, không chỉ trong một vài năm, nhưng từ khi trời đất được tạo thành cho đến ngày tận thế.” (Một Tâm hồn) ; hoặc như một Phan-xi-cô Xa-vi-e v́ trăn trở thao thức cho công cuộc rao giảng Tin Mừng mà gần như bực tức trước bao con người lănh đạm đối với mệnh lệnh thiêng liêng và yêu cầu bức thiết nầy : “Nhiều người quanh đây chưa trở thành tín hữu v́ không có ai dạy cho họ sống đức tin. Tôi vẫn thường ước ao đi thăm các đại học ở Âu Châu, đặc biệt ở Pa-ris, và la lớn như một người điên dại để đánh động những ai có nhiều kiến thức hơn là đức ái : có lẽ đă có nhiều linh hồn bị mất phúc thiên đàng chỉ v́ sự hờ hững của các người!” Thảo nào, Công Đồng Vaticanô II, khi nói đến nhiệm vụ truyền giáo của Giáo Hội đă không ngần ngại xác nhận: "Giáo Hội lữ hành trên trần thế, thể theo chính bản tính, là Giáo Hội truyền giáo" (Sắc lệnh về hoạt động truyền giáo của Giáo Hội, số 2). Dựa theo giáo huấn của Công Đồng, ĐTC Gioan Phaolo II, trong sứ điệp gửi Giáo Hội nhân ngày Truyền Giáo năm 1981, đă nhấn mạnh rất nhiều về trách nhiệm truyền giáo của mỗi giáo hội địa phương bằng một câu xác quyết có thể làm giật ḿnh: "Một giáo hội đóng kín và thiếu tinh thần truyền giáo là một giáo hội chưa phát triển đầy đủ hay đó là một giáo hội bệnh hoạn". 2. Phải truyền giáo thế nào đây : Th́ cứ viện dẫn ra đây một số phương thế được biểu thị bằng những h́nh ảnh của Tin mừng : - Trước hết hăy trở thành những “viên đá sống động” trong ṭa nhà Hội Thánh khi cuộc sống Kitô hữu không bao giờ chịu nằm yên hay dừng chân chờ sung rụng, mà luôn lên đường, luôn khám phá và sáng tạo để phục vụ Chúa tốt hơn. - Thứ đến phải can đảm trở thành những “hạt lúa mục nát giữa ḷng đời” khi mỗi ngày biết đong đầy những hy sinh và cầu nguyện, những phục vụ âm thầm hay cụ thể cho những người xung quanh hay cho cộng đoàn đang hội nhập. - Rồi phải sống và hiện diện làm sao như những “viên men vùi sâu trong thúng bột”, hay những “ngọn đèn cháy sáng đặt trên cao”. Có nghĩa là luôn biểu tỏ gương mặt tốt lành của Chúa Giêsu và Hiền Thê Ngài qua chính cuộc sống dễ thương, khả ái, hiền lành, tử tế của chính ḿnh, gia đ́nh ḿnh, cộng đoàn ḿnh. - Dĩ nhiên cũng cần phải có thái độ cẩn trọng, chín chắn của những “cô thôn nữ khôn ngoan với đèn dầu nghiêm túc’, những”đầy tớ trung tín và khôn ngoan” chu toàn mọi trách nhiệm được giao, những “người thợ làm vườn nho” sẵn sàng dấn thân hành động cho dù đến trễ… - Và nếu có lần nào yếu đuối lâm lụy v́ bản tính xác thịt ươn hèn, th́ hăy lập tức đứng dậy như những “đứa con hoang đàng nhưng biết cương quyết chỗi dậy đi về nhà Cha”, hay như Phêrô 3 lần chối Chúa nhưng sẵn sàng làm lại cuộc đời với 3 câu trả lời “Thầy biết con yêu mến Thầy”. - Trong khi đó, luôn ư thức rằng ; dấn thân cho công cuộc truyền giáo th́ không được so đo tính toán, không t́m lợi lộc thế trần, nhưng phải trang bị một tâm hồn quảng đại bao dung, biết cho đi và hy sinh tất cả như Maria Bêtania sắn sàng đập bể b́nh dầu thơm cam tùng hảo hạng để xức chân cho Chúa… Vâng, Giáo Hội muôn nơi và muôn thuở luôn cần những Mục Tử, những tông đồ, những giáo dân như thế. Chính nhờ những “viên đá sống động”, những “cành nho”, những “hạt lúa mục nát giữa ḷng đời”, những “viên men vùi sâu trong thúng bột”, những “ngọn đèn cháy sáng đặt trên cao”, những “bước chân vội vă loan Tin Mừng”, những “cô thôn nữ khôn ngoan với đèn dầu nghiêm túc’, những”đầy tớ trung tín và khôn ngoan” chu toàn mọi trách nhiệm được giao, những “người thợ làm vườn nho” sẵn sàng dấn thân hành động cho dù đến trễ, những “đứa con hoang đàng nhưng biết cương quyết chỗi dậy đi về nhà Cha”, những Phêrô 3 lần chối Chúa nhưng sẵn sàng làm lại cuộc đời, những Maria Bêtania sắn sàng đập bể b́nh dầu thơm cam tùng hảo hạng để xức chân cho Chúa…Vâng, chính những con người ấy, chính những “chứng nhân sống động” viết Lời Chúa bằng chính cuộc sống ḿnh và giảng Lời Chúa bằng trái tim ḿnh đă làm cho Ngôi Nhà Hội Thánh măi măi rực ngát hương thơm thánh thiện và đạo đức. Chúng ta không quên, vào thế kỷ thứ 12, khi tệ đoan lan tràn khắp nơi, các phe phái quá khích nổi lên, nhiều người phê b́nh chỉ trích các nhà lănh đạo Giáo Hội v́ cuộc sống phản chứng của các ngài. Lúc đó Thánh Phanxicô Assisiô xuất hiện. Ngài không chỉ trích ai, nhưng ư thức rằng kẻ phải ăn năn sám hối trước tiên là chính ngài. Ngài không khoe khoang, không tham lam, không giả h́nh, nhưng cố gắng sống nghèo khó, bác ái, phục vụ, khoan dung. Lư tưởng của thánh Phanxicô chẳng mấy chốc đă được nhiều người chia sẻ. Giáo Hội được hồi sinh, nhiều tâm hồn được đổi mới, mùa xuân thiêng liêng được nở rộ nhiều thế kỷ liên tiếp. Giáo Hội Việt Nam cách đây gần 4 thế kỷ, có chàng trai Anrê Phú Yên với 19 xuân xanh, trên con đường ra g̣ thành Chiêm để chịu chết v́ đức tin đă vui tươi giảng dạy chân lư Đạo Trời cho bàn dân thiên hạ đang đô hội theo coi mà nội dung cốt lỏi chỉ là : “Lấy t́nh yêu đáp lại t́nh yêu, đem mạng sống báo đền mạng sống…”. Không phải là lời giảng suông của một kinh sư hay biệt phái, cũng không là bài giáo lư thần học uyên thâm của các nhà tiến sĩ thần học, nhưng, lời rao giảng ấy lại có có sức thuyết phục tuyệt vời. V́ sau lời rao giảng đó chính là cái chết với trọn vẹn t́nh yêu… Và nếu khi sức đă kiệt, chân đă chồn, gối đă mơi, khi bệnh hoạn tật nguyền ập đến như tai họa bủa vây giăng mắc…th́ sứ vụ truyền giáo cũng vần được thực thi một cách đầy hiệu quả, theo “mô h́nh truyền giáo của Thánh nữ tiến sĩ Têrêsa hài Đồng Giêsu như chị để lại trong nhật kư một tâm hồn : Vào cuối đời, khi lâm bệnh nặng, thánh nữ vẫn cố gắng lê bước, một nữ tu nhận ra thánh nữ quá mệt nhọc nên đề nghị Ngài hăy nghỉ ngơi. Thánh nữ Têrêsa đă trả lời : “Chị biết điều ǵ đem lại sức mạnh cho em không ? Em đang lê bước để mưu ích cho một nhà thừa sai. Em tin rằng có một nhà thừa sai nào đó ở xa xăm lúc nầy đang chực quỵ ngă v́ những công cuộc tông đồ của Ngài, em xin dâng sự mệt nhọc của em lên Chúa (Sách đă dẫn,XII,9). Những ư tưởng trong lời cầu nguyện và hy sinh của Bông Hoa Nhỏ chắc chắn đă đem lại hiệu quả đến cho những miền tận cùng thế giới. Và có lẽ trước khi tuyên xưng đức tin, cộng đoàn chúng ta hăy cùng nhau hát lên bài Kinh Ḥa B́nh của Thánh Phan-xi-cô Assisi, như một lời cầu nguyện cho công cuộc truyền giáo của Hội Thánh và cũng là lời cầu xin cho mỗi người chúng ta được trở nen những tông đồ loan báo Tin Mừng cho thế giới hôm nay.
Giuse Trương Đ́nh Hiền CHÚA NHẬT XXVIII (TN B) Đừng để ánh sáng vụt tắt trong cơi ḷng ! Dẫn nhập đầu lễ : Lời mời gọi xuyên suốt của Tin Mừng đó chính là bước theo Đức Kitô Đấng Là Đường, Sự Thật và Sự Sống. Cách riêng, sứ điệp phụng vụ Chúa Nhật hôm nay muốn chúng ta tập chú vào việc theo Đức Kitô bằng con đường từ bỏ, bằng sự quảng đại biết chia sẻ, trao ban và tận hiến. Đó cũng có nghĩa là chấp nhận tự bóc lột chính ḿnh để trở nên giàu có nơi Thiên Chúa và làm phong phú cho tha nhân. Đây quả là một cuộc vượt qua anh hùng cần sức đỡ nâng của Thiên Chúa, cần niềm trông cậy vững vàng để con đường dẫn tới Thiên Chúa và đến với anh em không bị chắn lối bởi sự “giàu có thế gian”, để ánh sáng t́nh yêu và chân lư không bị vụt tắt trong cơi ḷng v́ những chướng ngại của gia tài thế tục. Giờ đây……. Giảng Lời Chúa : 1. Khi con người hăm hở đi t́m giàu có : Trong những năm vừa qua, trên những nẻo đường Đất Nước, người ta hay nói tới hai loại “đi t́m” được rất nhiều người hưởng ứng : T́m vàng và t́m trầm. Bởi chưng được vàng hay được trầm đều là được của cải, sẽ dẫn tới giàu sang phú quí. Trong mấy tháng vừa qua ở cái đất Phú Yên nầy đi nơi nào cũng nghe kháo láo về một dân đi điệu trúng Trầm đậm ở Ḥa Vinh. Nghe người ta được trầm mà trong ḷng ai ai cũng tỏ ra háo hức. Quả thật của cải, sự giàu sang có một mănh lực thu hút đến diệu kỳ. Chẳng thế, mà có không biết bao người v́ ham mê của cải đă táng tận lương tâm, đă không từ một thủ đoạn gian ác nào để có cho bằng được. Bao nhiêu vụ tiêu cực bê bối tham nhũng của cán bộ nhà nước được báo chí phanh phui trong những năm tháng qua phải chăng cũng do nguyên nhân chính yếu là ham mê của cải, ham muốn giàu sang. Có tiền mua tiên cũng được mà ! Hay sung sướng hả hê như tên trọc phú được Chúa Giêsu hư cấu trong câu chuyện ngụ ngôn nơi tin mừng Ma-cô 12, 16-21 : “Có một người phú hộ kia, ruộng nương sinh nhiều hoa lợi, mới nghĩ bụng rằng :”Ḿnh phải làm ǵ đây ? V́ c̣n chỗ đâu mà tích trữ hoa màu !” Rồi ông ta tự bảo : “Ḿnh sẽ làm thế nầy : phá những cái kho kia đi, xây những cái lớn hơn, rồi tích trữ tất cả thóc lúa và của cải ḿnh vào đó. Lúc ấy ta sẽ nhủ ḷng : hồn ta hỡi, ḿnh bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ ngơi, ăn uống vui chơi cho đă!” Quả thật, nếu hăm hở đi t́m của cải, sự giàu có để rồi dừng lại tại cái biên giới của sự hưởng thụ ích kỷ và ăn chơi phóng đăng, th́ quả thật, đó là một sự giàu có đáng bị lên án như chính Chúa Giêsu đă làm : "Khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có.." (Lc 6, 24), một sự giàu có được Ngài nhận định cách rất bi quan : "Người giàu khó vào Nước Trời" (Mt 19, 23-24). Mà không phải chỉ dừng lại ở chỗ ăn chơi phóng đăng và ích kỷ hưởng thụ, sự giàu có bị Thiên Chúa kết án, bị Đức Kitô điểm mặt c̣n là sự giàu có vênh váo bất cần Thiên Chúa và kiêu căng bũn xĩn xa cách anh em đồng loại: "V́ Dân Ta đă làm hai điều bất hảo :chúng đă bỏ Ta, mạch nước hằng sống, để đào cho ḿnh những cái bể ṛ, không chứa được nước" (Gr 2, 13). - La-da-rô nghèo khổ, thèm ăn những thức ăn trên bàn ăn của ông ấy rơi xuống mà ăn cho no nhưng chẳng ai cho (Lc 16, 19-21). Như vậy, liệu c̣n có sự giàu có nào đáng được trân trọng và nỗ lực kiếm t́m hay không ? Có lẽ câu chuyện “người thanh niên giàu có đến đặt vấn đề với Chúa Giêsu trong Tin Mừng Mác-cô vừa mới được công bố hôm nay : “Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm ǵ để được sự sống đời đời làm gia nghiệp ?” là một câu trả lời hết ư ! 2. Một sự giàu có đích thực đáng phải đi t́m : Trong ánh mắt của Đức Kitô, người thanh niên “có nhiều của cải” lại “biết tuân giữ các lề luật ngay từ thuở nhỏ”, nhất là các lề luật nhân bản “chớ giết người, chớ ngoại t́nh, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hăy thờ kính cha mẹ” quả thật anh ta đă bước gần tới ngưỡng cửa Nước Trời, bước gần tới cái giàu có trọn lành trọn hảo mà không phải ai cũng có thể đạt được. Chính v́ thế, “Đức Giêsu đưa mắt nh́n anh ta và đem ḷng yêu mến”. Nhà chú giải kinh thánh J.Putin trong tác phẩm “Jésus, l'histoire vraie” đă nhận xét thâm thúy trích đoạn Tin Mừng nầy bằng những lời sau : Một ánh mắt đầy âu yếm và quư trọng, được diễn tả ngay thành một lời mời gọi tha thiết: "Anh chỉ có thiếu một điều là hăy đi bán những ǵ anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hăy đến theo tôi". Đức Giêsu đề nghị anh đi xa hơn nữa trên con đường t́m kiếm Thiên Chúa, con đường tuy gồ ghề nhưng chỉ là nối tiếp con đường anh đă đi từ thuở nhỏ để được sự sống đời đời làm gia nghiệp; đó là : từ bỏ của cải để cho người nghèo. Nhưng điều hoàn toàn mới nằm trong lời mời gọi ở câu kết: "Rồi hăy đến theo tôi". Đức Giêsu mời gọi người Do thái trung thực này vượt lên khỏi đức tin của cha ông để gắn bó với Người, là trở nên môn đệ của Người. "Nghe lời đó", cuộc gặp gỡ đầu tiên đến đây đă diễn tiến đầy hứa hẹn, bỗng đột ngột chấm dứt: "Người thanh niên sa sầm nét mặt, và buồn rầu bỏ đi". Thánh sử cho ta biết, bởi v́ "anh ta có nhiều của cải". "Trên đường đi theo Đức Giêsu, người thanh niên giàu có này vấp phải một chướng ngại, đó là ḷng gắn bó với gia tài sản nghiệp. Của cải như tấm kính mờ đă che lấp ánh sáng, lúc ánh sáng muốn thâm nhập vào ḷng anh. "Anh sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi". Đức Giêsu đă đem ḷng yêu mến anh. Nếu niềm hy vọng có một con đường dẫn thẳng tới Thiên Chúa đă khơi dậy niềm vui to lớn thế nào th́ giờ đây, thay vào đó, là một nỗi buồn sâu xa không kém" (Jésus, l'histoire vraie", Centurion, tr-234). Như vậy, có một một sự giàu có đáng phải bỏ công kiếm t́m, cho dù phải trả giá đắt đó chính là “đáp lại tiếng gọi của Đức Kitô”, đó chính là biết sẵn sàng sẻ chia bác ái, đó là bỏ lại đằng sau tất cả để tiến bước trên con đường của Tin Mừng ; đó cũng chính là sự khôn ngoan đích thực như sách Khôn Ngoan đă ví von : “v́ vàng trên cả thế giới so với Đức Khôn Ngoan cũng chỉ là cát bụi, và bạc, so với Đức Khôn Ngoan, cũng kể như bùn đất.” (BĐ 1) 3. Đừng để ánh sáng vụt tắt trong cơi ḷng ! Người thanh niên giàu có vừa đi khỏi, Đức Giêsu liền đưa mắt nh́n các môn đệ đang "ở chung quanh Người". +Người tuyên bố: "những người giàu có th́ khó vào nước Thiên Chúa biết bao". Người c̣n làm cho các môn đệ sững sờ hơn khi nhấn mạnh theo kiểu Phương Đông : "Con lạc đà chiu qua lỗ kim c̣n khó hơn người giàu có vào Nước Thiên Chúa". +J.Putin giải thích: "Các môn đệ càng thấy sửng sốt hơn nữa v́ theo cách giữ đạo thời đó, th́ càng giàu càng có nhiều thuận lợi. Có nhiều tiền th́ người giàu có thể dâng lễ vật cho Thiên Chúa theo luật buộc để được xá tội, có thể dâng cúng một phần mười tài sản mà các tư tế đ̣i, hoặc có thể bố thí cho người nghèo... Dường như có một thoả thuận ngầm giữa Thiên Chúa và những người giàu. Như vậy, giàu có của cải không phải là dấu chỉ của người đẹp ḷng Thiên Chúa đó sao?" (Sđd, trang 234). Bởi đó mới có câu hỏi: thế th́ ai mới có thể được cứu rỗi? "Nếu người giàu không được cứu rỗi, th́ c̣n ai có thể được?". J.Putin giải thích tiếp: "Nếu họ theo sát lối tư duy của đạo truyền thống, họ là những người không có đủ tiền mua những lễ vật dồi dào, cũng không mua được những bộ chén dĩa cần thiết để giữ luật lệ về sạch sẽ. C̣n người giàu, họ có thể mà!" (Sđd, tr-235). +Nh́n các môn đệ một lần nữa Đức Giêsu nói thêm: "Đối với loài người th́ không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa th́ không phải thế, v́ đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể được". Đây là lời tuyên xưng niềm tin-cậy đă ghi một dấu ấn quan trọng trong lịch sử Kitô giáo ngay từ buổi đầu. Thiên thần đă chẳng tuyên bố với Apraham về việc Sara sẽ làm mẹ, dù bà hiếm muộn và đă già : "Có phép lạ nào mà Chúa không thực hiện được?". Và thiên thần đă chẳng tuyên bố với Đức Maria về việc bà Êlisabét sắp sinh con trong lúc tuổi già : "Bởi v́ không có ǵ mà Thiên Chúa không làm được" đấy sao? Chúng ta không được cứu độ bằng việc thực thi các lề luật, hoặc nhờ những của lễ sang trọng quư giá, hay nhờ việc từ bỏ, hy sinh anh hùng; ơn cứu độ là ân huệ cần phải đón nhận, chính Thiên Chúa đưa ta vào Nước Trời, ân sủng của Người có thể làm nên những việc lạ lùng. Câu nói trên của Đức Giêsu là một lời cổ vũ làm cho cái khó của sứ điệp trước giảm nhẹ đi. Và cũng từ lời phát biểu đó, chúng ta mới thấy tỏa sáng lên chân lư khó hiểu và ngược đời của tin Mừng Tám Mối Phúc Thật : “Phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó v́ Nước Trời là của họ”. Câu chuyện kết thúc khi Phêrô hỏi: "Thầy coi, chúng con đă bỏ mọi sự mà theo Thầy". Đức Giêsu hé mở cho thấy niềm vui "gấp trăm lần", những ǵ đă từ bỏ, niềm vui ấy bất cứ ai đă bỏ mọi sự v́ Người và v́ Tin Mừng sẽ cảm nghiệm được "ở đời này" và "đời sau". Nhưng Người cũng không che dấu những cuộc "bách hại" đang chờ họ. J.Putin kết luận: "Người môn đệ phải tham gia vào việc rao giảng Tin Mừng với Đức Giêsu... Nhưng cũng như Người, giữa niềm vui về những điều thiện hảo của Nước Chúa, họ phải chuẩn bị để chịu những cuộc bách hại. Ngay từ buổi đầu, Đức Giêsu đă đào tạo họ theo chiều hướng này! Phạm trù để phân xử đều bị đảo lộn. Người giàu mà ta trông thấy đang ở chỗ nhất, nay bị đưa xuống chỗ rốt hết trong Nước Trời. C̣n môn đệ và người nghèo được mời lên mời vào chỗ nhất, sau khi đă cùng Thầy ḿnh trải qua thử thách của sự bách hại" (Sđd, tr-235). Tóm lại, sứ điệp Lời Chúa hôm nay muốn chúng ta tiếp tục cuộc hành tŕnh t́m kiếm Nước Thiên Chúa, t́m kiếm sự trọn lành thông qua con đường do chính Chúa Giêsu đề nghị : con đường của khó nghèo, khiêm hạ, con đường biết quảng đại bóc lột chính ḿnh, bán đi những của cải cồng kềnh, những gia tài nặng nề che chắn lối đi tới Thiên Chúa và nẽo đến với tha nhân. Đó chính là sự từ bỏ và hy sinh của một trái tim anh hùng và quảng đại, một trái tim thà bị rướm máu v́ mất tất cả chứ không thể để ánh sáng vụt tắt đi v́ bị bao vây bởi những gia tài và của cải trần tục như chàng thanh niên Do Thái hôm xưa : “anh ta sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi, v́ anh ta có nhiều của cải”. Trong lịch sử Hội Thánh đă có biết bao con người nam cũng như nữ đă mạnh mẽ quảng đại đáp lại tiếng gọi của Chúa Giêsu “hăy đến theo tôi” sau khi đă anh hùng hy sinh tất cả, cho đi tất cả, cả mạng sống của ḿnh. Người ta nói rằng : Bất kỳ ai xin vào Tu hội Nữ Tử Bác Ái của Mẹ Têrêsa Calcutta đều nhận được một tờ giấy có ghi câu hỏi này: Tại sao bạn muốn trở nên một Nữ Tử Bác Ái? Các bạn trẻ thường trả lời: - Con muốn t́m một đời sống cầu nguyện - Con muốn sống đời sống khó nghèo - Con muốn hiến thân phục vụ người nghèo Và một trong các bạn trẻ đă viết như sau: “Thưa mẹ, đă nhiều lần con như nghe thấy tiếng Chúa Giêsu mời gọi con tận hiến trọn đời sống cho Ngài. Con đă suy nghĩ nhiều, tự hỏi chính ḿnh và các vị linh hướng xem Chúa muốn con vào ḍng nào. Cuối cùng con đă quyết định chọn tu hội của Mẹ v́ con muốn có cơ hội từ bỏ mọi giầu sang trần thế, để bước vào cuộc sống nghèo khó và hy sinh.” Và không chỉ nghèo khó hy sinh cho riêng ḿnh nhưng là để sẻ chia và làm cho kẻ khác được sống và sống phong phú, như sự hy sinh của ông họa sĩ già trong câu chuyện “chiếc lá cuối cùng” của J. London : Có một người nữ bệnh nhân đếm từng ngày sống thoi thóp của ḿnh bằng những chiếc lá rụng dần từ một cành cây nh́n thấy qua khung cửa sổ. Đến khi trên cành chỉ c̣n một chiếc lá duy nhất, cô nói với người thân của ḿnh: “Nếu đêm nay, chiếc lá cuối cùng không c̣n nữa, em sẽ chết!” Ở pḥng trọ bên dưới, có một hoạ sĩ t́nh cờ nghe được. Nửa đêm, giữa trời tuyết lạnh lẽo, ông bắc thang vẽ một chiếc lá vàng ở bức tường sát cành cây khô. Lúc hoàn tất kiệt tác cũng là lúc người ta thấy ông chết trong băng giá. Nhưng sáng hôm sau, người bệnh thức dậy, nh́n lên cành cây và reo lên: “Em vẫn c̣n có thể sống một hôm nữa!” Không biết cô gái ấy sống bao nhiêu nữa, nhưng điều chắc chắn là người họa sĩ đă nằm xuống trong hạnh phúc tuyệt vời. Ông đă dám sống từ bỏ, đă quảng đại hy sinh mạng sống ḿnh để kéo dài sự sống cho người khác. Và chúng ta tin rằng, những nghĩa cử hy sinh như thế sẽ làm cho những trái tim trở thành bất tử, bởi v́ ánh sáng không bao giờ vụt tắt trong cơi ḷng của họ. Giuse Trương Đ́nh Hiền
CHÚA NHẬT XXVII THƯỜNG NIÊN (B) Gia đ́nh : trang Tin Mừng được viêt cho thời đại
Dẫn nhập đầu lễ :
Kính thưa cộng đoàn, Cho dù không phải là một thánh lễ có ban bí tích Hôn Phối, sứ điệp Lời Chúa của Chúa Nhật hôm nay lại tập chú vào chủ đề hôn nhân-gia đ́nh, một nội dung giáo lư đặc biệt liên quan đến phần đông kitô hữu. Bởi v́ thành phần đông đảo nhất trong cộng đoàn Dân Chúa vẫn là những người chọn bậc sống hôn nhân gia đ́nh. Đứng trước những cám dỗ và áp lực nặng nề đe dọa nền tảng của gia đ́nh và sự thánh thiện bền vững của bí tích hôn nhân, đứng trước những nguy cơ rạn nứt và đỗ vỡ của nhiều gia đ́nh kitô hữu, nhất là các gia đ́nh kitô hữu trẻ, chúng ta hăy xin Chúa ban xuống muôn ơn trên các gia đ́nh, và xin Thánh Thần t́nh yêu hướng dẫn các đôi bạn trẻ tiến tới việc xây dựng gia đ́nh trong ư thức và niềm tin yêu. Giờ đây, chúng ta hăy thành tâm sám hối để xứng đáng cử hành mầu nhiệm thánh.
Giảng Lời Chúa :
Ở đây, trong ngôi Thánh đường nầy, chúng ta đă có rất nhiều dịp để chia sẻ cho nhau về t́nh yêu đôi lứa, về bí tích Hôn Phối, về đời sống hiôn nhân-gia đ́nh. Và dĩ nhiên nội dung của các đề tài trên đều là tốt đẹp thánh thiêng : t́nh yêu là thánh thiện, cao quí v́ bắt nguồn từ Thiên Chúa và phản ảnh chính t́nh yêu Thiên Chúa. Bí tích Hôn nhân là cao trọng và cần thiết v́ do chính Chúa Kitô thiết lập để ban ơn cho đôi vợ chồng. Gia đ́nh là thánh thiêng v́ là tế bào nền tảng của xă hội và Giáo Hội…Vâng, làm sao ở giữa cái không gian nầy, cái bầu khí nầy mà chúng ta lại nói khác được, cho dù trong hiện thực đời thường, h́nh như không phải tất cả trăm phần trăm đều đúng y như thế. Nói cách khác : cho dù t́nh yêu là bắt nguồn từ Thiên Chúa và Hôn Nhân là ư định của Đấng Tối Cao th́ vẫn có những t́nh yêu đă sớm phai màu và những đôi uyên ương đă rẽ cánh chia tay khi thời gian chung bước chỉ được mấy Mùa Xuân hay thậm chí, chỉ mới vài con trăng le lói. Và cho dù Bí tích Hôn Phối là phương thế tối hảo để Chúa Kitô chúc lành và thánh hóa lứa đôi, th́ cũng không ít những lứa đôi với cử hành Hôn Phối linh đ́nh trọng thể, với soirê lướt thướt đắt tiền, với camêra quay không thiếu một chi tiết nhỏ, với phù rễ phù dâu hàng tá cùng với những bài thánh ca hay nhất được chọn để ca khen…th́ chỉ sau khi cử hành Bí tích một khoảng thời gian ngắn chàng và nàng đă vội đưa nhau ra ṭa án dân sự để anh đi đường anh tôi đi đường tôi. Nói như thế không phải để chúng ta nghi ngờ chân lư : t́nh yêu vốn bắt nguồn từ Thiên Chúa và xem thường hiệu quả đích thực của Bí tích Hôn Phối, nhưng để chúng ta tỉnh táo nhận diện đâu là t́nh yêu đích thực phát xuất từ t́nh yêu Thiên Chúa, và đâu là những phương thế tối hảo để bảo vệ và thăng tiến đời sống hôn nhân-gia đ́nh
Dựa vào ánh sáng và uy tín của Lời Chúa vừa được công bố, chúng ta có thể phác thảo một vài nét chính yếu cho thấy một t́nh yêu đôi lứa bắt nguồn từ Thiên Chúa, chứ không là kết quả của một cảm xúc bốc đồng hay một giao ước bất đắc dĩ để thỏa măn những âm mưu và vụ lợi.
v Một t́nh yêu đôi lứa bắt nguồn từ Thiên Chúa khi cả hai đều nhận ra h́nh ảnh của Thiên Chúa trong nhân vị của mỗi người v́ như lời sách Sáng thế dạy : “Thiên Chúa sáng tạo con người theo h́nh ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ…” (St 1,27-28) Khi người nam nh́n người nữ chỉ là một “món hàng để sở hữu”, một “dụng cụ để thỏa măn”, một “tôi tớ để phục vụ”, một “công cụ để sinh lợi và sinh con”…th́ làm sao cho đó là t́nh yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Cũng vậy, khi người vợ xem người chồng chỉ là một vật để gây giống, một thứ công nhân không trả lương, một tên ăn hại, một gă khờ…th́ thử hỏi trong t́nh yêu kiểu đó có chút nào là t́nh yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa ! Và dĩ nhiên, thứ t́nh yêu như thế, vợ chồng xem nhau như thế, nếu c̣n ở với nhau ngày nào sẽ chỉ là thời gian của địa ngục và điểm đến chắc chắn đó chính là xa nhau. v Một t́nh yêu hôn nhân bắt nguồn từ Thiên Chúa khi người chồng và người vợ khắng khít và nên một trong tâm trí, trong dự phóng, trong những nhơ nhặt của đời thường hay trong những sự kiện và biến cố quan trọng trên từng cây số cuộc sống, như lời dạy của sách Sáng Thế : “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy cái xương sườn đă rút từ con người ra, làm thành một người đàn bà và dẫn đến với con người. Con người nói : “Phen nầy, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi ! Nàng sẽ được gọi là đàn bà ; v́ đă rút từ đàn ông ra”. Bởi thế, người đàn ông ĺa cha mẹ mà gắn bó với vợ ḿnh, và cả hai thành một xương một thịt” (St 2,22-24)
Làm sao gọi được một t́nh yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa khi chồng nói một đàng vợ hiểu một nẽo, chồng theo ư chồng vợ theo ư vợ. Không bao giờ biết gọi nhau bằng một tiếng “Ḿnh” trong khi đó mỗi người thi đua ăn riêng, tiêu riêng, chơi riêng, làm riêng. Một t́nh yêu không phấn đấu để trở nên mỗi ngày hiệp nhất hơn, ư hợp tâm đầu hơn, liên kết hơn, mà chỉ thấy nơi mỗi người toàn những khác biệt, những tính hư tật xấu, những trói buộc làm mất tự do, những keo kiệt và bũn xĩn mang đầy ích kỷ hẹp ḥi…Một t́nh yêu như thế làm sao bền vững được, keo sơn được, v́ tự bản chất, đă không có chút nào giống với t́nh yêu của Thiên Chúa, một Thiên Chúa Ba Ngôi, sắt son, hiệp nhất, bất khả phân lư và hoàn toàn nên một.
v Một t́nh yêu hôn nhân bắt nguồn từ Thiên Chúa khi vợ chồng biết hy sinh cho nhau, biết trao ban và nhận lănh như chính Thiên Chúa đă làm gương và đă dạy : “Thiên Chúa đă yêu thế gian đến nổi đă ban Con Một” (Ga 3,16), “Đây là điều răn của Thầy : anh em hăy yêu thương nhau như Thầy đă yêu thương anh em. Không có t́nh thương nào cao cả hơn t́nh thương của người đă hy sinh tính mạng v́ bạn hữu ḿnh” (Ga 15,12-13)
Làm sao gọi được là một t́nh yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa và phản ảnh chính t́nh yêu của Ngài khi người chồng coi vợ chẳng khác nào đứa ở, lúc nào cũng mắng nhiếc, nhục mạ, đánh đập và bắt vợ phải cung phụng trà nước cháo cơm, thức khuya dậy sớm trong khi cứ phây phây nhậu nhẹt say xỉn với bạn bè thâu đêm suốt sáng, hết quán bia ôm nầy tới quán karaôkê khác ; hay vợ lúc nào cũng biếng lười xảnh xẹ, đua đ̣i hết kiểu áo nầy đến kiểu dép kia, hết tứ sắc lại bài cào, bắt chồng lao tâm khổ tứ nắng dăi mừa dầm mà không hề ch́a tay đỡ cho nhau một chút, vác cho nhau một khúc…T́nh yêu như thế th́ làm sao ăn đời ở kiếp với nhau, cho dù có “mười bí tích Hôn Phối’ cũng phải chào thua !
2. Cầu nguyện : phương thế để bảo vệ đời sống Hôn nhân-gia đ́nh:
Để minh họa cho nội dung nầy, có một giai thoại nhỏ xin được chia sẻ : Một thanh niên Scốt-len t́m được một chân làm vườn trong một gia đ́nh giàu có. Nhưng chỉ hai tuần sau, anh xin thôi việc. Một người bạn hỏi : - Có phải công việc quá cực nhọc không? - Không, công việc rất nhàn. - Có phải lương qúa ít không? - Không, lương khá lắm. - Hay anh không thích đồ ăn ở đó? - Cũng không phải. Đồ ăn rất ngon. - Vậy tại sao anh thôi việc? - V́ nhà đó không có mái che. Đối với người Scốt-len, thành ngữ “nhà không có mái che” nghĩa là gia đ́nh không biết cầu nguyện.(Tonne).
Quả thật, một gia đ́nh không có thói quen thực hành việc cầu nguyện chung hay đă đánh mất sinh hoạt thiêng thánh nầy, chắc chắn sẽ đối diện với những trận phong ba bảo táp của sự dữ, những tác dụng tiêu cực xảy ra hằng ngày mà không có một phương tiện nào để che chắn bảo vệ. Trước những đe dọa và áp lực thường xuyên của nền văn minh sự chết thông qua các tệ nạn như : ly dị, phá thai, cái chết êm dịu, kiểm soát sinh sản toàn diện, kết hôn đồng phái…gia đ́nh kitô hữu phải là một ‘trung tâm cầu nguyện”, phải là một “cung thánh” như chính lời nhắn nhủ của Đức Cố Giáo hoàng G.P II trong huấn từ ngày 25.01.2003 : “Nếu các con ước mong trở thành “Tin Mừng cho thiên niên kỷ thứ ba”, th́ đừng quên rằng cầu nguyện trong gia đ́nh là con đường vững chắc để luôn hiệp nhất trong một lối sống ḥa hợp với thánh ư Thiên Chúa…” Nói theo ngôn ngữ của cuộc đại hội quốc tế gia đ́nh lần thứ IV tại Manila tháng 01.2003, th́ tại mỗi gia đ́nh cần có 3 cái “bàn thờ” : Bàn thờ thứ nhất thiết đặt ở trung tâm, là nơi toàn thể gia đ́nh sớm hôm họp nhau cử hành cầu nguyện. Không có bàn thờ nầy gia đ́nh sẽ không c̣n là một cung thánh, sẽ không phát triển và thăng hoa sự hiệp thông giữa các thành viên, sẽ nghèo nàn đời sống tin cậy mến, sẽ nhạt mờ t́nh yêu đối với Chúa Kitô và Hội Thánh, sẽ mù mờ và dốt nát các chân lư đức tin. Nói cách khác, sẽ đẫy Chúa đi xa v́ không c̣n có cơ hội cho Chúa đến viếng thăm và hiện diện như Ngài đă từng nhắc khéo : “Ở đâu có hai ba người họp lại v́ Danh ta, sẽ có ta hiện diện”. Bàn thờ thứ hai là “mâm cơm”. Bữa cơm gia đ́nh với sự hiện diện của các thành viên sẽ là nơi để tất cả dâng lời tạ ơn Thiên Chúa, là nơi để chia sẻ và hàn hyên tâm sự, là nơi để đón nhận và trao ban những kinh nghiệm, những lời huấn đức hay những học hỏi cần thiết về đức tin va cuộc sống… Bàn thờ thứ ba là “cái giường ngủ”. Chính nơi bàn thờ đặc biệt nầy mà t́nh yêu và ḷng chung thủy vợ chồng được biểu lộ, sự trinh khiết trong đời sống hôn nhân được thể hiện cụ thể, mối giây kết hiệp nhiệm mầu “nên một” của hai nhân vị được hiện thực hóa. Cũng chính nơi đây, con cái lănh lấy phép lành của Cha mẹ trước khi an giấc và đôi vợ chồng sẽ sống lại cái phút giây nhiệm mầu và hạnh phúc luôn mới mẻ và tinh khôi của bí tích Hôn Nhân. Phải lấy lại sự thánh thiện của không gian nầy và phải biến nơi đây thành cung thánh, thành bàn thờ, thành nơi hiện diện và chúc lành của Thiên Chúa t́nh yêu.
3. Gia đ́nh là “trung tâm truyền giáo” : Cécil Northcott trong quyển "Chúa hiển hiện đời nay" thuật lại một cuộc thảo luận trong trại hè dành cho thanh thiếu niên đại diện nhiều quốc gia trên thế giới : "Một đêm mưa khi các trại sinh thảo luận về nhiều phương cách khác nhau làm sao nói cho người khác biết về Chúa Giê-su. Họ hỏi một nữ trại sinh Phi châu : "Ma-ri-a, ở nước cô th́ cô làm thế nào ?" Ma-ri-a trả lời : "Chúng tôi không có hội truyền giáo, cũng không phát truyền đơn về đạo. Chúng tôi chỉ sai một hoặc hai gia đ́nh tín hữu đến sống, làm việc trong làng. Khi dân làng thấy cuộc sống Ki-tô như thế nào, họ đều muốn thành ki-tô hữu." Câu trả lời của cô Maria người Phi Châu trên đă nói lên tất cả cái sứ mệnh cao quí của các gia đ́nh kitô hữu : sứ mệnh chứng nhân giữa ḍng đời, sứ mệnh truyền giáo. Quả thật, như Đức Thánh Cha Phaolô VI phát biểu : “Ngày nay người ta tin các chứng nhân hơn các thầy dạy. Sở dĩ họ tin các thầy dạy v́ các thầy dạy chính là các chứng nhân”. Chính v́ thế, công cuộc phúc âm hóa thế giới hôm nay, công cuộc loan Tin Mừng và giới thiệu Đức Kitô cho nhân loại đư |