MỤC VỤ LỜI CHÚA
PHỤNG VỤ LỜI CHÚA CHÚA NHẬT THƯỜNG NIÊN
|
MÙA PHỤNG VỤ : NĂM C |
BÀI GIẢNG THAM KHẢO |
|
CHÚA NHẬT 32 TN (C) MỘT MAI SẼ KHÔNG LÀM CÁT BỤI
Dẫn nhập đầu lễ : Kính thưa Cộng đoàn, Chúng ta đang họp nhau cử hành phụng vụ Chúa Nhật XXXII quanh năm. Sứ điệp phụng vụ hôm nay dành cho chúng ta có thể được tóm tắt trong trong ư nghĩa nầy : Có một cuộc sống vĩnh cửu đang đợi chờ chúng ta. Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta sống đức “Trông cậy” một cách vững vàng, sống niềm hy vọng mănh liệt sẽ được hưởng hạnh phúc bất diệt trong vương quốc của Thiên Chúa, vương quốc của sự phục sinh. Đó chính là tiêu đích cho cuộc sống hôm nay : sống là để chuẩn bị bước vào ngưỡng cửa đời đời, sống là để được “hạnh phúc vĩnh hằng”. Thánh Lễ hôm nay vừa là một dấu chỉ vừa là một đảm bảo cho hạnh phúc trường sinh mai hậu, như Lời Đức Kitô phán : “Ai ăn Thịt và uống Máu Ta sẽ được sống đời đời” Giờ đây, để xứng đáng cử hành Thánh lễ, chúng ta hăy nh́n nhận tội tỗi.
Giảng Lời Chúa :
Tin tưởng, khắc khoải và hy vọng về một cuộc sống mai sau phải chăng đó là “câu chuyện chung muôn thuở của loài người”. Trước hết, các tôn giáo đều dạy các tín hữu của ḿnh niềm tin về sự sống mai sau. Cơi “Niết bàn” của Phật giáo hay “Thiên đàng” của Do thái giáo, Hồi giáo, Kitô giáo đều là những chân lư khẳng định niềm tin vào cuộc sống vĩnh hằng bên kia ngưỡng cửa sự chết. Cho dẫu có những người không theo một tôn giáo chính thức nào th́ vẫn cho rằng : chết là đi về với ông bà, là đi xuống suối vàng. Chính v́ thế, trong nghi thức tiển đưa người quá cố, người ta thường “đơm xôi, cúng quả, đốt giấy vàng bạc...để mong người chết c̣n có đường tồn sinh, c̣n có phương an dưỡng. Thậm chí đến những người vô thần và thấm nhuần triết lư duy vật của Marx – Engel như Cụ Hồ, th́ trước khi ĺa đời vẫn tuyên bố nghiêm chỉnh rằng : “Tôi đi gặp các Ông Marx, Lênin...” Trong khi đó, ngôn ngữ đời thường trong giới b́nh dân hay văn chương đài các của các danh gia bác học, âm hưởng về một cuộc sống mai sau gần như thời nào cũng có, lúc nào cũng vang vọng với thời gian. Nếu không mông lung, hư ảo như Nguyễn Công Trứ : “Kiếp sau xin chớ làm người Làm cây thông đứng giữa trời mà reo” hoặc bấp bênh vô định Trịnh Công Sơn : “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi. Ôi cát bụi mệt nhoài... hay một thoáng khinh bạc, hững hờ như Lê Dinh : Sống trên đời này người giàu sang cũng như người nghèo khó. Trời đă ban cho ta cám ơn trời dù sống thương đau. Mai kia chết rồi trở về cát bụi giàu khó như nhau. Nào ai biết trước số phận ngày sau ông trời sẽ trao... th́ cũng thấp thoáng ưu tư phiền muộn như kiểu nàng Kiều xót thương Đạm Tiên của Nguyễn Du : Đă không kẻ đoái người hoài Sẵn đây tá kiếm một vài nén hương, Gọi là gặp gỡ giữa đường, Họa là người dưới suối vàng biết cho. Sứ điệp phung vụ hôm nay cũng mang âm hưởng về cơi vĩnh hằng, về một ngay mai bên kia cái chết nhưng hoàn toàn khác hẳn. Đúng hơn, không phải là âm hưởng mà là một lời gọi mời hướng tầm nh́n đức tin về cơi vĩnh hằng, hướng cuộc sống về một chân trời hy vọng của ngày mai, hướng tâm tư đến một niềm trông cậy vững vàng vào cuộc sống hạnh phúc vĩnh cửu Thiên Chúa sẽ ân ban. Chính v́ thế, chúng ta không lấy làm lạ khi các bài đọc Lời Chúa hôm nay gần như xoay quanh nội dung nầy. Trước hết,
Bài đọc 1 : Trích sách Ma-ca-bê-ô quyển II : Kể lại ḷng dũng cảm của 7 anh em người Do Thái đối diện với cuộc tra tấn dữ tợn trong cuộc bách hại thời vua An-ti-ô-khô, cùng với ḷng trông cậy vững vàng của họ vào cuộc sống vĩnh hằng mai hậu dành cho những ai trung tín với lề luật của Thiên Chúa, như lời tuyên xưng dơng dạc của người con thứ tư : “Thà chết v́ tay người đời đang khi dựa vào Lời Thiên Chúa hứa mà hy vọng sẽ được Người cho sống lại. C̣n vua, vua sẽ không được sống lại để hưởng sự sống đâu” (BĐ 1) Phải chăng đây là điểm mới mẻ sau cùng của mặc khải cựu ước để hướng đến chân lư về sự phục sinh mà Đức Ki-tô sẽ công bố trong thời Giao ước mới. Thật vậy, cho dù chưa được hồng phúc đón nhận mạc khải về sự sống lại, sự phục sinh vinh quang trong Vương quốc của Thiên Chúa do Đức Kitô mang đến, các tín hữu Do Thái, nhờ ánh sáng Lời Chúa, vẫn tin tưởng mănh liệt vào cuộc sống mai sau, một cuộc sống có lành có dữ, có thưởng có phạt. Sứ điệp của sách Macabêô cho đến hôm nay vẫn c̣n nguyên giá trị sư phạm trong trường dạy đức tin. Thật vậy, trong cuộc hành tŕnh tiến về vĩnh cửu, có ai trong chúng ta lại không đối diện với những thử thách đau thương, với những bách hại cách nầy hay cách khác. Sợ rằng, với những cuộc bách hại tinh vi của thời đại hôm nay, không phải là “dầu sôi lửa bỏng, là gưom giáo ngục tù”, mà là danh vọng tiền tài, sắc dục, đam mê, thành công hưởng thụ…liệu chúng ta có c̣n đủ can đảm và trung thành để nói lên một lời xác tín như lời của Thánh vịnh 16 trong đáp vịnh ca hôm nay : “Về phần con sống công minh chính trực, con sẽ được trông thấy mặt Ngài, khi thức giấc, được thỏa t́nh chiêm ngưỡng Thánh Nhan” Thế nhưng, đích điểm của niềm trông cậy vĩnh hằng của chúng ta, hạnh phúc vĩnh cửu mai hậu mà chúng ta đang tiến về, quê hương Nước Trời mà chúng ta đang nỗ lực dựng xây lại không bao giờ là một cơi vu vơ, hảo huyền một lời ca dao của người xứ Huế :
“Trăm năm
trước th́ ta chưa có. Hay lăng đăng mơ màng như “Một cơi đi về “của Trịnh Công Sơn : “Trăm năm vô biên chưa từng hội ngộ. Chẳng biết nơi nao là chốn quê nhà…”
Trái lại, ở cuối chân trời hy vọng, ở đích điểm vĩnh hằng, ở cội nguồn hạnh phúc của chúng ta lại là một CON NGƯỜI, MỘT NGÔI VỊ : Một Thiên Chúa t́nh yêu, Một Mục Tử tốt lành dẫn chiên về bên suối mát, một Người Cha thương yêu đang ngóng đợi con về, một bạn đồng hành đang thân thương sánh bước Emmau, một “Thầy đây đừng sợ” đang dẹp tan cuồng phong bảo táp để đưa thuyền về bến đỗ b́nh yên…Vâng Thiên Chúa của chúng ta, Đức Kitô của chúng ta không phải chỉ đứng đợi mà là đang đi tới, đang trở về, như tư tưởng của thư thứ 2 Thánh Phao lô gởi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca : “xin chính Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô, và xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, Đấng yêu thương chúng ta và đă dùng ân sủng mà ban cho chúng ta niềm an ủi bất diệt và niềm cậy trông tốt đẹp” (BĐ 2) Lời động viên của Thánh Phao-lô dành tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca hăy vững ḷng trông cậy đợi chờ ngày Chúa đến vẫn c̣n nguyên giá trị đối với mỗi người chúng ta hôm nay, những kẻ đang đánh cuộc đời ḿnh trong niềm tin vào Đức Kitô phục sinh..
Tuy nhiên, sống chiều kích vĩnh cửu trong giữa đời thường ô trọc hôm nay không phải lúc nào cũng dễ dàng, cũng êm trôi. Bởi v́, khi đối diện với những vấn nạn mang chiều kích vĩnh cửu của phận người như : có không thiên đàng, hỏa ngục, có không hạnh phúc vĩnh hằng, có không thế giới bên kia…và những thực tại đó nó như thế nào ? th́ đă có không ít người hoặc đă quay lưng chạy trốn hoặc bực bội khước từ. Quả thực, đối với nhiều người : cuộc sống đời thường là trên hết, hưởng thụ là cần thiết nhất, thành công phương tiện là ưu tiên số một. Mọi thứ khác chẳng đáng quan tâm. Ngay vào thời Chúa Giêsu cũng đă có cả một phong trào, một cộng đoàn Do Thái chủ trương như thế. Họ chính là nhóm Sa-đu-kê-ô mà hôm nay trong trích đoạn Tin mừng Lu-ca bày đặt ra câu chuyện “một vợ bảy chồng” để bắt bí Chúa Giêsu về niềm tin sống lại. Và Ngài đă đập tan những luận điệu xuyên tạc sự sống lại ở đời sau của họ. Ngài khẳng định chân lư về cuộc sống vĩnh hằng, một cuộc sống được thăng hoa, biến đổi để trở nên “con cái của Thiên Chúa” , con cái của sự sống lại. Quả thật nếu không có sự sống lại th́ thế giới nầy quả là vô nghĩa, cuộc sống nầy chẳng có chút giá trị ǵ. Bởi v́ nếu khống có đời sau, không có vĩnh hằng, không có thưởng phạt th́ “thiện ác đáo đầu cũng như nhau” chứ làm ǵ có chuyện “chung hữu báo”, bậc công chính hiền nhân hay tên tàn ác giết hại sinh linh cũng chỉ là hai chiếc đầu lâu mục nát. Và như thế, người ta có thể nói với nhau “ta ăn đi, ta uống đi, v́ ngày mai ta sẽ chết” (Is 22,13). Hay như lời Thánh Phaolô : nếu không có sự sống lại “th́ lời rao giảng của chúng tôi thật hư không…và việc anh em tin cũng thật hảo huyền” (1 Cr 15,12-17). Hư ảo hảo huyền như “vết mực xóa bỏ không hay” “Ôi cát bụi phận nầy, vết mực nào xóa bỏ không hay” (Cát bụi của TCS). Không, người kitô hữu chúng ta “một mai sẽ không làm cát bụi” mà sẽ sống lại vinh quang. Chúng ta tin “xác loài người ngày sau sẽ sống lại”. Tóm lại, vào những ngày gần kết thúc năm phụng vụ, sứ điệp Lời Chúa mời gọi chúng ta sống đức “Trông cậy” một cách vững vàng, sống niềm hy vọng sẽ được hưởng hạnh phúc bất diệt trong vương quốc của Thiên Chúa, vương quốc của sự phục sinh. Đó chính là tiêu đích cho cuộc sống hôm nay : sống là để chuẩn bị bước vào ngưỡng cửa đời đời. Sống chính là cuộc hành hương đi về vĩnh cửu. Sứ điệp nầy lại được vang lên trong những ngày của tháng “Các đẳng linh hồn” sẽ là một nhắc nhớ mỗi người chúng ta đừng quên số phận của những anh chị em đang được thanh luyện trong luyện ngục, và sốt sắng cầu nguyện cho họ để họ sớm được hưởng phúc thiên đàng. Và chúng ta cũng đừng quên, chút nữa đây, Tấm bánh là Thân ḿnh Đức Kitô được bẻ ra để trao ban cho chúng ta như quà tặng tuyệt vời nhất, như lương thực trường sinh cao quí nhất để dẫn chúng ta tiến bước về quê hương bất diệt. V́ chính Ngài đă dạy : “Ai ăn và uống máu tôi, sẽ được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết” (Ga 6, 54).
CHÚA NHẬT 31 THƯỜNG NIÊN C CUỘC HẠNH NGỘ CỦA NIỀM TIN
Dẫn nhập đầu lễ : Kính thưa Cộng đoàn, Chúng ta đang họp nhau cử hành phụng vụ Chúa Nhật XXXI quanh năm. Sứ điệp phụng vụ hôm nay dành cho chúng ta có thể được tóm tắt trong trong ư nghĩa nầy : ĐỨC TIN : CHÍNH LÀ CUỘC HẠNH NGỘ GIỮA T̀NH THƯƠNG CỨU ĐỘ CỦA THIÊN CHÚA VÀ NỔI KHÁT KHAO T̀M KIẾM CỦA CON NGƯỜI. Qua các chỉ dẫn của Lời Chúa được công bố trong thánh lễ hôm nay, đặc biệt qua câu chuyện gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và ông ty trưởng thuế vụ Gia-kê của Tin Mừng Luca, chúng ta một lần nữa xác tín rằng : qua Đức Kitô, Thiên Chúa luôn đưa mắt kiếm t́m những con chiên lạc để t́nh thương cứu độ sẽ măi măi là cuộc hạnh ngộ của yêu thương và tha thứ, của sám hối và đổi đời, của đại tiệc hoan ca t́nh huynh đệ, nồng ấm nghĩa gia đ́nh… Để thánh lễ hôm nay, với mỗi người chúng ta, cũng sẽ là cuộc hạnh ngộ như thế với Đức Kitô, với Thiên Chúa t́nh yêu, chúng ta hăy khiêm hạ thú nhận tội lỗi…
Giảng lời Chúa :
Nếu cho rằng Cây Thánh Giá là biểu tượng cốt yếu của Kitô giáo, th́ liệu chúng ta có t́m được nơi h́nh tượng nầy một ư nghĩa thâm thúy nào khác nữa chăng, ngoài ư nghĩa nhắc nhớ cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa Giêsu ? Thưa rằng có một ư nghĩa độc đáo nữa : đó chính là mối tương quan giữa Trời – Đất (Thanh dọc) và Người với Người (Thanh ngang). Quả thật, Đức Kitô đến, qua cuộc sống, cái chết và sự phục sinh của Ngài đă nối kết Đất-Trời, Thiên Chúa - Nhân loại và liên kết người với người thành anh em với nhau. Một tôn giáo chỉ có “chiều dọc” và loại bỏ chiều ngang sẽ biến tín đồ thành những con người cuồng tín, sẵn sàng chà đạp lên mạng sống và phẩm giá của anh em ; trái lại một tôn giáo chỉ tập trung thăng tiến con người mà loại bỏ chiều kích “hướng thượng”, th́ sẽ trở thành một chủ thuyết duy vật vô thần, sẽ sớm đưa lịch sử con người vào ngơ cụt, chẳng chóng th́ chầy sẽ xô đẩy nhân loại vào những cuộc huynh đệ tương tàn, hận thù chia rẽ. Sứ điệp Lời Chúa của Chúa Nhật hôm nay là một khắc họa rơ nét về hai mối tương quan nầy : Chúa và tôi / Tôi và anh em đồng loại. Chúa đến để t́m tôi để nói với tôi lời yêu thương tha thứ, và tôi đưa mắt khát khao gặp gỡ Chúa để làm lại cuộc đời. Rồi từ cuộc gặp gỡ thân thương nầy Ngài sẽ biến đổi tôi để tôi có thể giang rộng ṿng tay ôm lấy mọi anh em. v Ngay từ Bài đọc thứ nhất, Trích sách Huấn ca : Đây là những đoạn hiếm hoi của mặc khải cựu ước khi tŕnh bày dung mạo yêu thương của Thiên Chúa : “Chúa yêu thương hết mọi loài…Chúa nhắm mắt làm ngơ, không nh́n đến tội lỗi loài người…Chúa xử khoan dung với mọi loài, v́ mọi loài là của Chúa…”. Vâng, Thiên Chúa của chúng ta là một “Thiên Chúa giàu ḷng nhân ái”, một Thiên Chúa đă mạnh mẽ đoan quyết rằng : “Cho dù có người mẹ nào không thương con dạ nó mang, th́ Ta, Ta vẫn không hề quên ngươi” (Is 49,15) v Phải chăng việc thể hiện Đức tin đúng nghĩa đó là không ngừng tuyên xưng t́nh yêu của Thiên Chúa như lời tuyên xưng của đáp ca Thánh vịnh 144, hôm nay : “Chúa thành tín trong mọi lời Chúa phán, đầy yêu thương trong mọi việc Ngài làm. Ai quị ngă Chúa cũng đều nâng dậy, kẻ bị d́m xuống Người cho đứng thẳng lên”. v Và Thiên Chúa đó đă không mệt mơi dấn thân đi t́m con chiên lạc, để hôm nay bắt gặp một Gia-Kê, kẻ vừa thấp bé trong cái nh́n nhục mạ rẻ khinh của người Do Thái, vừa lùn trong hàng rào đố kỵ của đám đông. Đây là một cuộc gặp gỡ đặc biệt mang dấu ấn sâu sắc về Tin Mừng Cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện trong Đức Ki-tô. Sáng kiến cứu độ, t́nh yêu tha thứ, luôn bắt nguồn từ Thiên Chúa : “Đức Giê-su đi ngang qua thành phố ấy…tới chỗ ấy..Người nh́n lên và gọi ông…Quả thật Đức Kitô đă t́m thấy con chiên lạc đang “vướng trên cành’ và niềm vui rạng rỡ đă bật thành lời : “Hỡi Gia-kê hăy xuống mau, v́ hôm nay Ta phải lưu lại nhà ngươi” (Lc 19,5). Trong cuộc hạnh ngộ hi hữu nầy không phải chỉ có Giakê là người hạnh phúc mà theo chú giải của Noel Quesson, chính Đức Kitô cũng là người hạnh phúc vui mừng : “Ôi chao ! Ngày hôm nay đó, chắc Đức Giêsu phải sung sướng hạnh phúc lắm ! C̣n vài cây số nữa là đến Giêrusalem. C̣n vài ngày nữa là cuộc khổ nạn được dâng hiến để cứu chuộc con người. Mọi nổi đơn độc chơ vơ của thập giá, mọi h́nh khổ Ngài sẽ gánh chịu, mọi vết thương xé nát bàn tay và đôi chân đẩm máu sẽ mang lại ơn ích cho nhân loại. Ngài biết điều đó. Ngài đă cứu thế gian khi tiến lên Giêrusalem. Và Giakê là hoa trái đầu mùa”… Và phải chăng với câu chuyện Giakê hôm nay, Đức Kitô muốn hiện thực hóa những dụ ngôn về ḷng thương xót của Thiên Chúa mà Ngài vừa rao giảng : “T́m con chiên lạc”, “Đồng bạc t́m thấy”, “Người con hoang đàng”. Nhưng cuộc hạnh ngộ của niềm tin không chỉ đọng lại nơi bữa tiệc vui mà phải đi tới, phải tiến về phía trước, phía của đổi đời, của cuộc cách mạng nội tâm, cuộc “thay da đổi thịt đời sống”. Quả thật đúng như lời ca mà ai ai trong chúng ta cũng đă hơn một lần ngâm nga : “Gặp gỡ Đức Kitô biến đổi cuộc đời ḿnh, gặp gỡ Đức kitô đón nhận ơn tái sinh”. Vâng, “Thiên Chúa yêu chúng ta đến nổi ban Con Một” (Ga 3, 16), và Người Con ấy, đă đến và “cắm lều ở giữa chúng ta” (Ga 1, 14), “đă đến nơi nhà chúng ta” (Ga 1, 11). Tuy nhiên, để “sáng kiến cứu độ” đó được trở thành hiện thực th́ chúng ta phải mở rộng cơi ḷng đón nhận, phải can đảm đổi đời như Gia-kê : “Ông vội vàng tụt xuống, và mừng rỡ đón rước Người… Ông đứng lên thưa với Chúa rằng : “Tôi xin lấy phân nữa tài sản của tôi mà cho người ngèo ; và nếu đă lường gạt ai, tôi xin đền gấp bốn”. Quả thật, “những ai đón nhận Người, Người cho họ trở nên con Thiên Chúa” (Ga 1,12). Và chính cuộc đổi đời đó đă đưa Giakê vào một vị trí mới, một sự hàn gắn mối tương quan người với người, một cuộc hiệp thông huynh đệ, một đại gia đ́nh không c̣n chỗ cho đố kỵ rẻ khinh, mà tất cả sẽ là “anh em trong Đức Kitô”. Đó chính là “Gặp gỡ Đức Kitô chân thành ḿnh gặp ḿnh, gặp gỡ Đức Kitô nẩy sinh t́nh đệ huynh”. Bởi v́ chính Đức Kitô hôm nay đă khẳng quyết : “bởi người nầy cũng là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham” (Lc 19,10)
Tóm lại, sứ điệp phụng vụ hôm nay mời gọi chúng ta luôn sống đức tin một cách tích cực, sinh động bằng những nỗ lực hằng ngày vươn ḿnh về phía trước, về phía của Đức Ki-tô, của Tin Mừng với một trái tim yêu thương và tin tưởng tuyệt đối vào ḷng nhân ái của Thiên Chúa. Khiêm hạ đón nhận sứ điệp Lời Chúa và can đảm đổi đời đó chính là định hướng căn bản của đức tin và là ch́a khoá giải mă, là điểm tựa cho cuộc sông hôm nay và ngày mai. Một niềm tin vững vàng như thế không cho phép chúng ta dao động, lo lắng trước bất cứ biến cố nào, tin đồn thất thiệt nào hay những thử thách gian truân nào như lời khuyến dụ trong Bài đọc 2 : Trích thư Thánh Phao-lô gởi giáo đoàn Thê-xa-lô-ni-ca : “Anh em đừng vội để cho tinh thần dao động, cũng đừng hoảng sợ…” (2 Tx 1,11-2,2). Và một niềm tin như thế sẽ biến chúng ta thành chứng nhân của yêu thương, khoan dung và tha thứ để xây dựng thế giới quanh ta, cộng đoàn quanh ta thành gia đ́nh của hiệp nhất, yêu thương, huynh đệ. Khi nào chúng ta thực hiện được như thế, chúng ta sẽ nghe vọng lên chính Lời của Đức Ki-tô : “Hôm nay ơn cứu độ đă đến cho nhà nầy …V́ Con Người đến để t́m và cứu những ǵ đă hư mất”.
CHÚA NHẬT XXX (TN C) Điều quư giá nhất đối với Thiên Chúa
Dẫn nhập đầu lễ : Kính thưa cộng đoàn phụng vụ, Gần như để tiếp nối và khai triển chủ đề về ḷng khoan dung và yêu thương của Thiên Chúa dành cho những tâm hồn khiêm hạ, khó nghèo (như “mười người phung cùi được chữa lành” trong CN XXVIII, “Bà góa nghèo được minh oan” trong CN XXIX), sứ điệp Phụng vụ hôm nay muốn nhấn mạnh tới thái độ của loài người chúng ta trước t́nh yêu Thiên Chúa. Đó chính là ḷng khiêm hạ sám hối của “người thu thuế” đối lập với thái độ tự măn kiêu căng của người biệt phái mà Chúa Giêsu đă minh họa rơ nét trong dụ ngôn Tin Mừng hôm nay. Đây cũng chính là tâm t́nh và thái độ sám hối cần thiết trong lúc nầy để chúng ta xứng đáng cử hành mầu nhiệm thánh.
Giảng lễ : Một đêm giáng sinh nọ, Thánh Giêrônimô đang quỳ bên máng cỏ để suy niệm về mầu nhiệm Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người th́ bỗng Chúa Hài Đồng hiện ra trong vầng sáng chói loà. Ngài hỏi thánh nhân : • Giêrônimô, con có ǵ làm quà cho Ta trong ngày Ta giáng sinh không ? • Lạy Chúa Hài Đồng, thánh nhân đáp, con xin dâng Chúa trái tim của con. • Được lắm, nhưng c̣n ǵ khác nữa không ? • Lạy Chúa, con xin dâng Chúa tất cả những ǵ con có và tất cả những ǵ con có thể. • Con c̣n điều ǵ khác nữa không ? • Con có điều ǵ khác để dâng Chúa nữa đâu. Thánh nhân khẩn khoản thưa. Chúa Hài Đồng bảo : • Này Giêrônimô, hăy dâng cho ta cả những tội lỗi của con nữa. • Ô lạy Chúa, Thánh nhân hốt hoảng hỏi lại, làm sao con dâng cho Chúa tội lỗi của con được ? • Được chứ ! Ta muốn con dâng cho Ta tội lỗi của con để Ta có thể tha thứ cho con. Đó là điều Ta rất mong đợi. Nghe thế, thánh nhân bật khóc v́ sung sướng. (Trích ”Món quà giáng sinh”)
1. Kính thưa ông bà và anh chị em : dĩ nhiên câu chuyện của Thánh Giêrônimô vừa rồi không phải với chủ đích “bao che cho tội lỗi”, nhưng chính là nhấn mạnh đến ḷng khoan dung, tha thứ của Thiên Chúa, cũng như thái độ khiêm nhu, sám hối của con người. Đó cũng là chủ đề xuyên suốt của toàn bộ Thánh Kinh mà chủ yếu chính là lời giáo huấn của Thiên Chúa nhằm dạy cho con người hiểu và xác tín rằng : Thiên Chúa, “Đấng chậm bất b́nh và rất mực yêu thương”, Ngài luôn yêu thích những tâm hồn khiêm nhu bé nhỏ thật thà và chân t́nh sám hối ăn năn, mà lời đáp vịnh ca chúng ta vừa ca lên hôm nay như một lời nhắc nhở thân thương, dịu dàng : Chúa gần gũi những tấm ḷng tan vỡ, Cứu những tâm thần thất vọng ê chề. Chúa cứu mạng những người tôi tớ, Ai ẩn thân bên Chúa không bị phạt bao giờ (TV 33) Chính Đức Kitô, “Con Một của Thiên Chúa” đă cảm nhận chân lư ấy một cách sâu đậm và xác tín đến độ đă xuất thần với lời nguyện hân hoan, hạnh phúc : “Lạy Cha là Chúa tể trời đất, con ngợi khen Cha, v́ Cha đă giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều nầy, nhưng lạI mặc khải cho những người bé mọn, vầng, lạy Cha, v́ đó điều đẹp ư Cha” (Mt 11,25-26). “Người bé mọn” đó chính là người “con hoang đứng dậy trở về nhà cha”, là người chọn đi trên con đường “Tám mối Phúc Thật”, là kẻ can đảm chấp nhận “con đường hẹp”, là biết không ngừng “trở nên như em bé”. “Người bé mọn” đó cũng chính là Maria Mađalêna đong đầy những giọt nước mắt sám hối, là Gia-kê với nổi vui ngút ngàn sẵn sàng đổi thay cuộc sống khi Chúa bất thần đến viếng thăm nhà, là Phêrô với lời đáp trả ngập ngừng của con tim đầy hối hận ăn năn nhưng cùng ắp đầy lửa mến vào buổi sáng Phục sinh trên biển hồ Tiberiat : “Lạy Thầy, Thầy biết hết mọi sự, Thầy biết con yêu mến Thầy”. ; “người bé mọn” đó cũng chính là người thu thuế trong dụ ngôn Tin Mừng hôm nay với thái độ và lời cầu nguyện khiêm cung của một tâm hồn khiêm cung đầy ḷng sám hối : “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”... Một cách nào đó, chúng ta có thể nói được rằng : thái độ khiêm cung, sám hối chính là cái quư giá nhất mà Thiên Chúa cần nơi chúng ta, và cũng là điều cần thiết nhất mà nhân loại hôm nay cần có để có thể có được một “mùa xuân an b́nh và hạnh phúc cho đời thường cuộc sống”. Nội dung câu chuyện ngụ ngôn của các anh chị em Hồi Giáo sau đây có thể minh họa cho chân lư nầy cách cụ thể : Ngày kia Đức Ala truyền cho một sứ thần xuống thế gian t́m xem có điều ǵ tốt đẹp nhất để mang về trời. Sứ thần đáp xuống ngay một chiến trường nơi máu của các vị anh hùng đang chảy lai láng. Sứ thần thu nhặt một ít máu mang về cho Đức Ala. Nhưng xem ra Đức Ala không hài ḷng mấy. Ngài bảo : “Máu đổ ra cho tổ quốc và tôn giáo là một điều quư giá nhưng vẫn chưa phải là điều tốt đẹp nhất nơi trần gian.” Sứ thần đành phải giáng thế một lần nữa. Lần này ngài gặp đám tang của một người giàu có nhưng rất quảng đại. Vô số người nghèo đi theo sau quan tài, vừa đi vừa khóc vừa xông hương để tỏ ḷng biết ơn đối với vị đại ân nhân. Sứ thần liền thu nhặt hương thơm mang về trời. Lần này Đức Ala mỉm cười đón lấy hương thơm ngào ngạt. Nhưng xem ra Ngài vẫn chưa hài ḷng, Ngài nói : “Dĩ nhiên ḷng biết ơn là một trong những điều hiếm có và tốt đẹp nơi trần gian. Nhưng Ta nghĩ rằng c̣n có một cái ǵ tốt đẹp hơn.” Lại một lần nữa sứ thần đành phải vâng lệnh. Sau nhiều ngày t́m kiếm khắp 4 phương, một buổi chiều nọ ngồi nghỉ bên vệ đường, Ngài bỗng thấy một người đang khóc sướt mướt. Trước những câu hỏi đầy ngạc nhiên của sứ thần, người ấy giải thích : “Tôi đă ch́u theo cơn cám dỗ mà phạm tội. Giờ đây nước mắt là lương thực hằng ngày của tôi”. Sứ thần giơ tay hứng lấy những giọt nước mắt c̣n nóng hổi và thẳng cánh bay về trời. Đức Ala chăm chú nh́n những giọt nước mắt rồi mỉm cười nói : “Thế là ngươi đă hoàn thành tốt nhiệm vụ. Quả thật dưới trần gian không có ǵ tốt đẹp và hữu ích cho bằng ḷng sám hối, bởi v́ nó có sức canh tân cuộc đời. Một ḷng sám hối chân thật có sức biến đổi mùa đông giá rét của ḷng người thành mùa xuân ấm áp của t́nh yêu. (Trích ”Món quà giáng sinh”)
2. Và một khi đă học biết được mối thiện cảm của Thiên Chúa dành cho ḿnh, th́ làm sao chúng ta lại đang tâm tỏ thái độ kết án và khinh miệt những người anh chị em chung quanh như người biệt phái trong dụ ngôn Tin Mừng hôm nay : “Người pharisêu đứng riêng một ḿnh cầu nguyện rằng : Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, b́ con không giống như bao kẻ khác : tham lam, bất chính, ngoại t́nh, hoặc như tên thu thuế kia” (Lc 18,11)... Hăy xét xem đă có lần nào tôi đă gân cổ tranh căi với người khác : “Tôi đúng, anh sai”. Hăy xét xem đă có lần nào tôi bỉu môi, lên tiếng chê bai những người mà tôi cho là xấu xa tội lỗi? Hăy xét xem đă có lần nào tôi tự măn hài ḷng khi thấy ḿnh hơn người nào đó về nhiều mặt ?... Nếu có như vậy phải chăng tôi cũng chính là người pharisêu đáng trách, chỉ nh́n thấy công trạng của ḿnh trong khi ném về phía anh em sự xúc phạm và kết án. Chúng ta đừng quên lời cầu nguyện của Thánh Vương Đavít khi Ngài ăn năn sám hối : “Chúa chẳng ưa thích ǵ tế phẩm Con có thượng tiến lễ toàn thiêu, Ngài cũng không chấp nhận. Lạy Thiên Chúa, Tế phẩm dâng Ngài là tấm ḷng tan nát, Một tấm ḷng tan nát dày ṿ, Ngài sẽ chẳng khinh chê...” Chúa chằng cần công trạng nhưng cần tấm ḷng khiêm cung của tôi. Chính v́ thế, ngay từ đầu thánh lễ, chúng ta đă đồng thanh cử hành nghi thức sám hối : “Tôi thú nhận...” Chúng ta hăy xác tín rằng, chút nữa đây tan lễ, “khi bước trở về nhà, th́ tất cả chúng ta được nên công chính”, như người thu thuế trong Tin Mừng hôm nay. Bởi v́ chúng ta đă cùng nhau khiêm cung đến trước Chúa trong tâm t́nh và thái độ ăn năn sám hối .
CHÚA NHẬT TRUYỀN GIÁO Toàn thể Giáo Hội cho khắp nơi thế giới
Dẫn nhập : Truyền giáo : việc của ai ? Tôi làm linh mục được hơn 18 năm rồi. Trong 18 năm qua, có thể nói được ngày nào cũng có người xin dâng ư lễ. Số ư lễ xin dâng hầu hết đến 99% là xin cho những yêu cầu cá nhân, gia đ́nh : lễ cầu hồn, lễ giỗ, lễ cưới, lễ an táng, lễ tạ ơn, lễ b́nh an... Gần như không thấy có ai xin lễ cầu cho công viêc truyền giáo của Giáo Hội… Thế nhưng, trong đoạn cuối Sứ điệp gởi cho Dân Chúa nhân ngày Truyền Giáo 2007, ĐTC Benedicto đă nhắc lại lời khuyên của ĐGH Pio XII trong Thông điệp “Hồng Ân đức tin” được ban hành cách đây đúng 50 năm để khơi lên nỗ lực truyền giáo : Đức Giáo Hoàng Piô XII viết năm mươi năm trước, “Chư huynh đáng kính, chúng tôi tin tưởng rằng chư huynh luôn tha thiết cầu nguyện cho việc truyền giáo” (Fidei Donum, s. 49). Anh chị em hăy luôn nhớ đến nhu cầu thiêng liêng lớn lao của rất nhiều dân tộc: những người rời xa con đường sự thật cũng như biết bao nhiêu người đang cần nhờ những phương thế để giữ vững đức tin.” (x. s. 55).Và ngài hối thúc các tín hữu dâng nhiều Thánh Lễ để chỉ cho việc truyền giáo, ngài cho rằng: “điều này hợp với lời cầu nguyện của Chúa chúng ta, Đấng yêu mến Giáo Hội và muốn Giáo Hội của Người phát triển cũng như mở rộng bờ cơi đến toàn thể thế giới.” ( như trên s.52). Tôi muốn nhắc đến sự kiện nầy để tất cả chúng ta cùng ư thức và hướng về sứ mệnh chung mà chúng ta đă lănh nhận từ bí tích Thánh tây : Sứ mệnh truyền giáo.
1. Thử trở về với cội nguồn xuất phát. Cái mệnh lệnh năm nào của Thầy Chí Thánh : “Anh em hăy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin mừng cho cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16,15), tưởng đâu sẽ bị rơi vào quên lăng khi ngay từ thuở ban đầu đă bị vùi dập te tua bởi các thế lực Do Thái giáo, như sách Công vụ tông đồ ghi lại : “Họ cho gọi hai ông vào và tuyệt đối cấm hai ông không được lên tiếng hay giảng dạy về danh Đức Giêsu nữa” (Cv 4,18) ; “Chúng tôi đă nghiêm cấm các ông không được giảng dạy về danh ấy nữa, thế mà ḱa các ông đă làm cho cả Giêrusalem ngập đầy giáo lư của các ông, lại c̣n muốn cho máu người ấy đổ trên đầu chúng tôi” (Cv 5,28), đă mau chóng trở thành hiện thực, một hiện thực mà chỉ với năng lực của loài người chắc chắn sẽ không bao giờ với tới. Và thế rồi, không chỉ Giêrusalem “ngập đầy giáo lư của các tông đồ”, mà sau đó lần lượt cả đế quốc Rôma và cho đến hôm nay đă có hơn 1/3 thế giới nhận biết Chúa Giêsu và giáo lư do các Tông Đồ rao giảng. Như thế, phải chăng, những lời tiên báo từ ngàn xưa của các tổ phụ, các sứ ngôn đă ứng nghiệm : “Tiếng chúng đă vang dội khắp hoàn cầu và thông điệp loan đi tới chân trời góc biển” (Tv 18). Tuy nhiên, thành quả đó, công tŕnh Phúc âm hóa tưởng đâu dễ như trở bàn tay v́ có Chúa Thánh Thần hướng dẫn và tác động đó, lại là kết quả của bao đau thương và vất vả, của bao nước mắt và mồ hôi của bao máu xuơng và hy sinh ngút ngàn của muôn thế hệ tông đồ, thừa sai, những người đă dấn thân thực thi đến tận cùng mệnh lệnh của Thầy chí Thánh đến độ đă tâm niệm một cách gần như cuồng tín kiểu Tông đồ Phaolô : “Khốn cho tôi nếu tôi khổng rao giảng Tin Mừng” . Hay đầy chất lăng mạn, lư tưởng như một Têrêsa Hài Đồng Giêsu, một nữ tu âm thầm trong tu viện thanh vắng : “Lạy Chúa, con ước ao đi dọc ngang khắp thế giới, để rao giảng thánh danh Chúa và cắm cờ hy vọng vào thánh giá vinh quang Chúa trong lănh thổ dân ngoại. Rồi nữa, một miền truyền giáo mà thôi không đủ cho con. Con muốn cùng một lúc được truyền bá Phúc âm của Chúa khắp thế giới, kể cả những hải đảo heo hút nhất. Con muốn trở thành một nhà thừa sai, không chỉ trong một vài năm, nhưng từ khi trời đất được tạo thành cho đến ngày tận thế.” (Một Tâm hồn) ; hoặc như một Phan-xi-cô Xa-vi-e v́ trăn trở thao thức cho công cuộc rao giảng Tin Mừng mà gần như bực tức trước bao con người lănh đạm đối với mệnh lệnh thiêng liêng và yêu cầu bức thiết nầy : “Nhiều người quanh đây chưa trở thành tín hữu v́ không có ai dạy cho họ sống đức tin. Tôi vẫn thường ước ao đi thăm các đại học ở Âu Châu, đặc biệt ở Pa-ris, và la lớn như một người điên dại để đánh động những ai có nhiều kiến thức hơn là đức ái : có lẽ đă có nhiều linh hồn bị mất phúc thiên đàng chỉ v́ sự hờ hững của các người!” Tuy nhiên, cái nhân tố cốt lỏi làm cho công cuộc truyền giáo của Hội Thánh được kiên cường và phát triển lại chính là quyền năng của Đấng Phục Sinh và sự hiện diện nâng đỡ của Ngài trong suốt chiều dài lịch sử truyền giáo của Hội Thánh, như lời khẳng quyết của Đức Thánh Cha Benedicto trong Sứ điệp của Ngài gởi cho Dân Chúa nhân ngày truyền giáo năm nay : Trong nhiệm vụ truyền giáo nặng nề này chúng ta được nâng đỡ và được đồng hành trong niềm xác tín rằng Người là Chúa mùa gặt, Người luôn ở với chúng ta và không ngừng hướng dẫn dân Người. Chúa Kitô là nguồn mạch vô biên của công cuộc truyền giáo của Giáo Hội. Quả thật, “Không có Thầy anh em không thể làm ǵ nên chuyện” ! (Ga 15,5)
2. Phải truyền giáo thế nào đây :
Th́ cứ viện dẫn ra đây một số phương thế được biểu thị bằng những h́nh ảnh của Tin mừng : - Trước hết hăy trở thành những “viên đá sống động” trong ṭa nhà Hội Thánh khi cuộc sống Kitô hữu không bao giờ chịu nằm yên hay dừng chân chờ sung rụng, mà luôn lên đường, luôn khám phá và sáng tạo để phục vụ Chúa tốt hơn. Làm viên đá sống cũng có nghĩa là sống chiều kích nhân bản, sống đạo làm người sao cho hoàn chỉnh, tốt đẹp. - Thứ đến phải sống và hiện diện làm sao như những “viên men vùi sâu trong thúng bột”, hay những “ngọn đèn cháy sáng đặt trên cao”. Có nghĩa là luôn biểu tỏ gương mặt tốt lành của Chúa Giêsu và Hiền Thê Ngài qua chính cuộc sống dễ thương, khả ái, hiền lành, tử tế của chính ḿnh, gia đ́nh ḿnh, cộng đoàn ḿnh. Đây chính là lối diễn tả đức tin Công Giáo, là “sự công chính mới” theo đúng kích thước của Tin Mừng, đặc biệt là Tin Mừng “Tám Mối Phúc Thật”. - Dĩ nhiên cũng cần phải có thái độ cẩn trọng, chín chắn của những “cô thôn nữ khôn ngoan với đèn dầu nghiêm túc’, những ”đầy tớ trung tín và khôn ngoan” chu toàn mọi trách nhiệm được giao, những “người thợ làm vườn nho” sẵn sàng dấn thân hành động cho dù đến trễ… - Và nếu có lần nào yếu đuối lâm lụy v́ bản tính xác thịt ươn hèn, th́ hăy lập tức đứng dậy như những “đứa con hoang đàng nhưng biết cương quyết chỗi dậy đi về nhà Cha”, hay như Phêrô 3 lần chối Chúa nhưng sẵn sàng làm lại cuộc đời với 3 câu trả lời “Thầy biết con yêu mến Thầy”. - Trong khi đó, luôn ư thức rằng : dấn thân cho công cuộc truyền giáo th́ không được so đo tính toán, không t́m lợi lộc thế trần, nhưng phải trang bị một tâm hồn quảng đại bao dung, biết cho đi và hy sinh tất cả như Maria Bêtania sắn sàng đập bể b́nh dầu thơm cam tùng hảo hạng để xức chân cho Chúa, hay như bà góa nghèo dành dụm “hai đồng xu nhỏ” để cho đi… - Sau hết và cũng là đ̣i hỏi cao nhất của lối sống truyền giáo đó chính là phải can đảm trở thành những “hạt lúa mục nát giữa ḷng đời” khi mỗi ngày biết đong đầy những hy sinh và cầu nguyện, những phục vụ âm thầm hay cụ thể cho những người xung quanh hay cho cộng đoàn đang hội nhập. Nhất là với t́nh yêu trọn vẹn cho Thiên Chúa và con người sẵn sàng hiến dâng tất cả, cho đi tất cả, cả mạng sống, đễ Chúa được vinh danh và con người được ơn cứu rỗi. Chúng ta không quên, vào thế kỷ thứ 12, khi tệ đoan lan tràn khắp nơi, các phe phái quá khích nổi lên, nhiều người phê b́nh chỉ trích các nhà lănh đạo Giáo Hội v́ cuộc sống phản chứng của các ngài. Lúc đó Thánh Phanxicô Assisiô xuất hiện. Ngài không chỉ trích ai, nhưng ư thức rằng kẻ phải ăn năn sám hối trước tiên là chính ngài. Ngài không khoe khoang, không tham lam, không giả h́nh, nhưng cố gắng sống nghèo khó, bác ái, phục vụ, khoan dung. Lư tưởng của thánh Phanxicô chẳng mấy chốc đă được nhiều người chia sẻ. Giáo Hội được hồi sinh, nhiều tâm hồn được đổi mới, mùa xuân thiêng liêng được nở rộ nhiều thế kỷ liên tiếp. Giáo Hội Việt Nam cách đây gần 4 thế kỷ, có chàng trai Anrê Phú Yên với 19 xuân xanh, trên con đường ra g̣ thành Chiêm để chịu chết v́ đức tin đă vui tươi giảng dạy chân lư Đạo Trời cho bàn dân thiên hạ đang đô hội theo coi mà nội dung cốt lỏi chỉ là : “Lấy t́nh yêu đáp lại t́nh yêu, đem mạng sống báo đền mạng sống…”. Không phải là lời giảng suông của một kinh sư hay biệt phái, cũng không là bài giáo lư thần học uyên thâm của các nhà tiến sĩ thần học, nhưng, lời rao giảng ấy lại có có sức thuyết phục tuyệt vời. V́ sau lời rao giảng đó chính là cái chết với trọn vẹn t́nh yêu… Và như thế, chúng ta một lần nữa lại sẵn sàng lên đường để nối tiếp những Phêrô, những Gioan, những Phaolô,những Phanxicô Xavie, Anrê Phú Yên, Têrêxa Hài đồng Giêsu…để đem hạt giống Tin Mừng gieo văi trên cánh đồng thế giới.
Giuse Trương Đ́nh Hiền
CHÚA NHẬT XXVIII (TN C) Phung cùi hay tội lỗi đều có chỗ trong mái nhà Thiên Chúa
Dẫn nhập đầu lễ : Anh chị em thân mến, Chúng ta đang được Chúa Kitô Phục sinh qui tụ lại nơi đây để cùng với Ngài dâng lên Chúa Cha Lời Tạ Ơn tuyệt vời nhất là chính Hy Tế Thập Giá của Ngài. Trong Hy Tế Tạ Ơn nầy, chúng ta cảm nhận t́nh yêu cứu độ của Thiên Chúa dành cho mỗi người, khi Người chữa lành chúng ta khỏi mọi vết nhơ tội lỗi nhờ cuộc tử nạn và phục sinh của Đức Kitô. V́ thế, sống đức tin chính là không ngừng biểu tỏ tâm t́nh và thái độ tạ ơn Thiên Chúa. Đó cũng chính là trọng tâm sứ điệp Lời Chúa trong thánh lễ hôm nay. Giờ đây, chúng ta thành tâm sám hối để xứng đáng cử hành mầu nhiệm thánh.
Giảng Lời Chúa :
1. Phung cùi hay tội lỗi đều có chỗ trong mái nhà Thiên Chúa : Nơi đâu và thời nào cũng có những con người bị xă hội ruồng rẫy, rẽ khinh và vứt bỏ bên lề cuộc sống mà không một chút xót thương. Vào thời Chúa Giê-su, đại biểu cho những nhóm người bạt phận đó chính là những người phung hủi, những người sống mà như đă chết, lang thang quờ quạng trong hoang mạc cách ly, kéo lê cuộc đời trong nỗi cô độc bị gạt bỏ khỏi thế giới loài người. Người nào chạm tới họ lập tức trở thành ô uế, mang tội vào thân. Mà không phải chỉ vào thời của Chúa Giê-su, những người phong cùi mới bị đối xử như thế. Thời nay, những trường hợp bi đát vẫn xảy ra trên thân phận những người cùi, như câu chuyện sau đây của Raoul Follreau, vị đại ân nhân của người phong cùi trên thế giới : Trong một thị trấn nhỏ nọ, một người đàn ông lâm bệnh nặng. Sau khi khám nghiệm, các bác sĩ nghi ngờ anh ta đă mắc bệnh phong hủi... Tuy không là một phán quyết dứt khoát, nhưng kể từ đó người ta không c̣n thấy anh ra khỏi nhà nữa. Gia đ́nh anh mỗi lúc lại càng xác tín hơn về bệnh t́nh của anh. Thế là để che dấu con người mà họ coi như một sự xấu hổ chung, những người thân của anh đă giam anh trong một cái mùng lớn. Người đàn ông đáng thương chỉ c̣n sống vất vưởng nhờ lương thực tiếp tế mỗi ngày. Vũ trụ của anh chỉ c̣n là khung mùng phủ kín bốn chân giường. Ngậm đắng nuốt cay từng giờ từng phút, người đàn ông chỉ c̣n mỗi một hy vọng: đó là trốn thoát được chính nhà giam của anh... Ngày nọ, anh đă trốn ra khỏi khuôn mùng và gia đ́nh của anh. Nhưng chẳng may, người ta đă chận bắt được anh. Lần nay, người đàn ông khốn khổ dường như không c̣n một hy vọng nào nữa. Anh chỉ c̣n muốn t́m sự giải thoát qua cái chết... Lần thứ hai, anh trốn khỏi vũ trụ tối tăm của anh. Nhưng lang thang măi mà vẫn không t́m được sự tin tưởng và giúp đỡ của những người khác, anh đă t́m đến cái chết như một lời biện hộ cuối cùng. Người đàn ông đă mua thuốc ngủ và tự vận trước mặt mọi người. Cái chết của anh đă gây chấn động trong dư luận. Người ta yêu cầu cho khám nghiệm tử thi. Kết quả đă làm cho mọi người sửng sốt : anh đă không bao giờ mắc bệnh phong cùi... Chính trong cái nổi bi đát khốn cùng của kiếp phận sống dỡ chết dỡ đó, mà bệnh phong cùi đă được các Thánh kư dùng làm biểu trưng của “thân phận tội lỗi” của con người. Tội lỗi chính là một thứ “cùi hủi tâm linh”, một t́nh trạng bi đát khiến con người bị đẩy vào t́nh trạng xa cách Thiên Chúa và anh em đồng loại. Đặc biệt trong ngữ cảnh của Tin Mừng Luca hôm nay, mười người phung cùi lang thang đi t́m Đấng Cứu Thế với lời van xin tha thiết : “Lạy Thầy Giê-su, xin dủ ḷng thương xót chúng tôi”, chúng ta như nghe vọng về những lời nguyện xin của những tâm hồn tội lỗi nài xin ḷng khoan dung tha thứ của Thiên Chúa : - Người thu thuế đấm ngực thân thưa : “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là người tội lỗi” (Lc 18,13) - Người con hoang trở về thưa cha : “Thưa cha, con đă đắc tội với trời và với cha, chẳng c̣n đáng gọi là con cha nữa” (Lc 15,21) - Kẻ trộm bị đóng đinh sám hối : “Ông Giê-su ơi, khi ông vào nước của ông, xin nhớ đến tôi”. (Lc 23,42). Và Thiên Chúa đă đón đợi từ lâu để “chữa lành” những thân phận con người “phung cùi đáng thương đó. Lịch sử cứu rỗi phải chăng là một thiên t́nh ca về ḷng yêu thương và sự chữa lành của Thiên Chúa dành cho thân phận tội lỗi cùi hủi của loài người. Niềm tin nầy hôm nay Phụng vụ một lần nữa muốn kiên cố lại nơi tâm hồn chúng ta qua lời tuyên tín của ông quan Naaman, một người phung hủi xứ Syria được sứ ngôn Ê-li-sê chữa lành sau khi trầm ḿnh 7 lần dưới ḍng sông Gio-đa-nô : “Không có Chúa nào khác trên thế gian nầy ngoài Chúa của Ít-ra-en”. Và Vị Thiên Chúa đó lại là Thiên Chúa của ḷng thương xót, Thiên Chúa của khoan dung và tha thứ, Thiên Chúa của t́nh yêu. Ḍng nước sông Gio-đa-nô đă tẩy sạch bệnh phung cùi cho Na-a-man, phải chăng là h́nh bóng tiên trưng về ḍng nước của bí tích Thánh Tẩy sẽ tẩy sạch chúng ta khỏi mọi vết nhơ tội lỗi. V́ thế, chúng ta sẽ không lấy làm lạ, khi Đức Kitô chữa lành 10 người phung cùi, th́ điều đầu tiên Ngài lệnh cho họ là phải đi tŕnh diện với các tư tế. Điều đó muốn nói lên rằng, một khi đă được chữa lành khỏi vết nhơ tội lỗi, con người sẽ được hội nhập vào cộng đoàn dân thánh, sẽ được ngẫng cao đầu đĩnh đạc tiến vào mái nhà của Thiên Chúa mà không sợ ánh mắt nào đố kỵ, rẽ khinh. Quả thật, một khi con người nhận ra và đáp trả t́nh yêu Thiên Chúa, th́ không có con bệnh nan y nào mà không được chữa lành, không có thứ tội lỗi ghê gớm nào mà không được tha thứ, như chính lời khẳng quyết của Thiên Chúa : “Tội các ngươi dầu có đỏ như son, cũng ra trắng như tuyết ; có thẫm tựa vải điều, cũng hóa trắng như bông” (Is 1,18). Quả thật, phung cùi hay tội lỗi đều có chỗ trong mái nhà Thiên Chúa.
2. Tri ân – cảm tạ : hành vi cao cả của niềm tin. Làm sao con người có thể vô t́nh vô ơn khi lănh nhận hồng ân cứu độ cao cả như thế ! Chính v́ thế, sứ điệp phụng vụ hôm nay c̣n gọi mời chúng ta phải luôn biết sống tâm t́nh tri ân cảm tạ v́ muôn vạn hồng ân đă nhận được từ bàn tay yêu thương của Thiên Chúa. Đó chính là thái độ của vị quan Naaman thời ngôn sứ Ê-li-sê hay của một trong số mười người phung được Đức Kitô chữa lành đă quay lại để dâng lên tâm t́nh tri ân cảm tạ đối với Đấng đă thi ân giáng phúc. Mà xét cho cùng, hành vi cốt lỏi của đức tin con người chính là tâm t́nh và thái độ tạ ơn. Chính v́ thế, từ ngữ “Tạ Ơn” gần như là câu điệp khúc của toàn bộ Sách Thánh : “Hăy tạ ơn Chúa v́ Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn t́nh thương” (Tv 107,1). Như thế, thái độ không biết tạ ơn Thiên Chúa, không cần phải cám ơn Thiên Chúa, chính là thái độ vô thần, vô tôn giáo, vô tín ngưỡng. Đó là thái độ tự măn, kiêu căng, lấy ḿnh làm đủ, coi ḿnh bằng trời. (Bàn tay ta làm nên tất cả, với sức người sỏi đá cũng thành cơm !...hay Ông trời dẹp lại một bên, để cho nông hội đứng lên làm trời…). Không ai trong chúng ta lại rơi vào thái độ ngông cuồng đó. Tuy nhiên, thái độ dửng dưng, coi mọi sự là đương nhiên : miếng cơm manh áo là do tiền lương của sức lao động, sức khỏe là do siêng tập thể dục, nhà cửa, xe cộ là do tiết kiệm, tích lũy, học hành thành đạt là do chăm chỉ…V…V…mọi sự đương nhiên là phải như thế, có ǵ đâu mà phải tạ ơn với cám ơn. Đợi khi nào trúng số độc đắc hay khỏi bệnh ung thư th́ mới xin lễ tạ ơn…Có lẽ 9 người phung cùi sau khi được khỏi bệnh cũng lư luận như thế : t́nh cờ gặp may khỏi bệnh, nào Chúa có can thiệp ǵ đâu, mắc mớ ǵ phải trở lại tạ ơn cái anh chàng Giê-su thợ mộc đến từ làng quê Na-da-rét ! Chính với cái năo trạng “đương nhiên” đầy tự măn đó, đă xô đẩy bao con người xa dần mối quan hệ với Thiên Chúa để rồi mất đức tin lúc nào không hay. Sứ điệp Phụng vụ hôm nay nhắc nhở chúng ta luôn biết khám phá muôn vạn hồng ân Thiên Chúa giăng mắc trên đường đời, để không ngừng dâng lên Ngài những tâm t́nh và nghĩa cử của ḷng tri ân cảm tạ. Trong tháng Mân Côi nầy, chúng ta có thể dơi mắt nh́n lên Đức Trinh Nữ Maria để tiếp bước theo Ngài trong tâm t́nh tri ân và cảm tạ đầy khiêm nhu thánh đức phần nào được biểu hiện qua lời kinh Magnificat : “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa Thần trí tôi hớn hở vui mừng V́ Thiên Chúa Đấng cứu độ tôi…. Đấng Toàn Năng đă làm cho tôi Biết bao điều cao cả Danh Người thật chí thánh chí tôn ! Trương Đ́nh Hiền
CHÚA NHẬT XXIV TN (C) Khi t́nh yêu chiến thắng LM. Giuse Trương đ́nh Hiền
Kính thưa ông bà và anh chị em, Mấy tuần trước đây, chúng ta đă nghe tin về sự ra đi của Danh Ca Luciano Pavarotti người Ư. Bản tin của trang mạng Vietcatholic loan báo rằng : Luciano Pavarotti, 71 tuổi, giọng tenor lừng danh thế giới đă được an táng trong một lễ nghi trọng thể tại nhà thờ chánh ṭa tổng giáo phận Modena. Tổng giáo phận Modena đă chịu nhiều chỉ trích khi cử hành lễ an táng trọng thể cho Pavarotti v́ ông này là người đă ly dị, đă tái kết hôn, và có một thời gian xa ĺa Giáo Hội. Tuy nhiên, tờ Sydney Morning Herald tường thuật rằng cha Remo Sartori, cha xứ của Pavarotti, đă khẳng định rằng ở cuối đời, trong khi giành giật sống chết với cơn bệnh ung thư, Pavarotti đă trở lại đạo và hôm thứ Năm tuần qua đă chịu các phép bí tích sau cùng. Trong khi đó, một bản tin khác lại tường thuật rằng : “Tuần qua, trước khi từ giă cơi đời, danh ca Luciano Pavarotti đă thoải mái nói: Thượng đế và tôi không c̣n mắc nợ ǵ nhau.” Quả thật những ḍng cuối của bản tin đă làm cho tôi thật sự xúc động : “trong khi giành giật sống chết với cơn bệnh ung thư, Pavarotti đă trở lại đạo và hôm thứ Năm tuần qua đă chịu các phép bí tích sau cùng.” Nếu được đặt trong ngữ cảnh của Sứ điệp Lời Chúa, chúng ta có thể nói được rằng : Cuộc đời của Pavarotti đă hiện thực hóa các dụ ngôn của Tin Mừng Luca vừa được công bố hôm nay : Vâng, Pavarotti nào có khác chi một “con chiên lạc đă được t́m thấy”, “đồng bạc lạc mất đă được lượm lại”, “người con hoang đàng đă trở về nhà cha sau một đời lang thang phóng đăng”. Mà thật ra, nào có phải chỉ có mỗi một Pavarotti ! Tất cả chúng ta ai lại không hơn một lần bầm dập thương tích như một “con chiên lạc”, lang thang vất vưởng như một “đồng bạc bị đánh rơi”, rách nát thảm thương như “người con hoang một đời phóng đăng” ? Vâng, nào có ai là thánh nhân đến độ không bao giờ lỗi phạm đến Thiên Chúa và anh em ? Nếu có ai tự vỗ ngực xưng ḿnh là người nhân đức thánh thiện “không hề lỗi phạm điều ǵ cùng cha”, th́ xin mời họ hăy xếp hàng đứng chung với “người con trưởng”, h́nh tượng của dụ ngôn Tin Mừng mà Đức Kitô đă tế nhị dành riêng cho những người mang danh kư lục và biệt phái ! Chính v́ thế sứ điệp Lời Chúa hôm nay lại là một tín thư của niềm hy vọng, của t́nh yêu cứu độ được viết cho mỗi người chúng ta, cho toàn thể nhân loại. Thế nhưng sứ điệp nầy, chân lư nầy đâu có phải chỉ dừng lại nơi dụ ngôn hay câu chữ để rồi bỏ lại thân phận bao con người ôm nỗi bẽ bàng thất vọng theo kiểu “bất cần đời” của thi sĩ Chế Lan Viên : Thượng đế ơi, xin cuối đầu trả lại Linh hồn tôi đà một kiếp đi hoang Sầu đă chín xin Người thôi hăy hái, Nhận tôi đi dù địa ngục thiên đàng Không. Ngay từ thuở hồng hoang cựu ước, khi dân được chọn đang đứng bên bờ vực thẳm của án phạt bất trung, th́ chỉ với lời van xin tha thiết của lănh tụ Môsê, “Thiên Chúa đă nguôi cơn giận, không thực hiện điều dữ mà Người đe dọa phạt dân” (BĐ I). Hay như chứng từ của một trong những “người con hoang” nổi tiếng đă làm nên lịch sử oai hùng cho Kitô giáo là thánh Phaolô trong chính bức tâm thư gởi cho đồ đệ Timôthê mà chúng ta vừa nghe công bố hôm nay : “Cha cảm tạ Đấng đă ban sức mạnh cho Cha là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, v́ Người đă kể cha là người trung tín, khi đặt cha thi hành chức vụ : dù trước kia cha là kẻ nói phạm thượng, bắt đạo và kiêu căng, nhưng cha đă được Chúa thương xót, v́ cha đă vô t́nh làm những sự ấy lúc cha chưa tin” (BĐ II) Nào chúng ta đă chẳng từng đọc thấy : giọt nước mắt yêu thương của người đàn bà tội lỗi Maria Mađalêna, nổi vui ngút ngàn của người phú hộ Giakê, niềm hạnh phúc trào dâng của chàng Lêvi thu thuế…Phải chăng đó là h́nh tượng của tất cả chúng ta, khi chúng ta thật sự t́m về với Chúa nơi ṭa giải tội để được mặc chiếc áo mới của t́nh yêu tha thứ, hay được nghe lời phán quyết yêu thương trong những phút ăn năn sám hối trước Thiên Chúa t́nh yêu. Nào chúng ta đă chẳng từng nghe kể một sự kiện hy hữu của Tin Mừng Gioan : Đức Giêsu hiện thân của t́nh thương cứu độ, khoan dung, tha thứ của Thiên Chúa, và người phụ nữ phạm tội ngoại t́nh, hiện thân của của một nhân loại bẽ bàng, tội lỗi, lầm than…Khi suy niệm bối cảnh nầy, và khi phóng chiếu vào chính cuộc đời ḿnh, Thánh Giáo phụ Augustinô đă kết luận chí lư : “Chỉ c̣n lại t́nh thương và tội lỗi”. Phải chăng, đó cũng chính là nội dung cốt lơi của toàn bộ chân lư đức tin Kitô giáo, của kho tàng mặc khải của Thánh kinh ? Bởi chưng, chân lư cuối cùng về Thiên Chúa, đó chính là nh́n nhận và tuyên xưng “Thiên Chúa là t́nh yêu”, và sự thật tối hậu dành cho thân phận của mỗi con người đó chính là : “chúng ta cần ơn cứu độ bời v́ chúng ta là tội nhân”.   |