THỜI SỰ MỤC VỤ 
GIÁO HỘI VIỆT NAM

Trang chủ    Tổng quan sinh hoạt      Tin tức mục vụ      Tin nhắn đặc biệt      Chia sẻ Lời Chúa      Nối kết website

 

THỜI SỰ MỤC VỤ GIÁO HỘI HOÀN VŨ

TƯ LIỆU

KẾT NỐI THÔNG TIN MỤC VỤ

WEBSITES CÔNG GIÁO

 THƯỢNG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC THẾ GIỚI XII

 

A. Lược qua các khoá họp Thượng Hội đồng Giám mục
(Cập nhật: 04/10/2008 14:46:06)

 

LTS: Khoá họp Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới lần thứ XII do Đức Beneđictô XVI triệu tập sẽ nhóm họp ở Roma từ ngày 05-26/10/2008 tới đây với chủ đề “Lời Chúa trong Đời sống và Sứ vụ của Giáo Hội”. Trong thời gian họp, sẽ có thánh lễ khai mạc vào Chúa Nhật 05/10 và bế mạc vào Chúa Nhật 26/10 tại Đền thờ Thánh Phêrô.

BBT xin được giới thiệu lược qua các khoá họp Thượng Hội đồng Giám mục từ trước đến nay.

 

Trong bài phỏng vấn dành cho Đài Vatican, ngày 25-9-1995, nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới, ĐHY Jan Schotte, Tổng Thư kư Thượng Hội đồng Giám mục, đă gọi Cơ quan mới này là "một việc quan pḥng của Thiên Chúa". Ngày 15-9-1965 là một trong các niên hiệu quan trọng nhất của lịch sử Giáo Hội trong thế kỷ 20 này: với Tự sắc "Apostolica Sollicitudo", Đức Phaolô VI thành lập Thượng Hội đồng Giám mục (Synodus Episcoporum). “Synodus” nguyên ngữ tiếng Hy Lạp Syn-hodos (cùng nhau đi trên con đường, cùng nhau tiến tới).

Thượng Hội đồng Giám mục là ǵ? - Là một khoá họp của các giám mục, được lựa chọn từ các miền khác nhau trên thế giới và một số vị do Đức Thánh Cha chỉ định. Các vị được chọn và được Đức Thánh Cha chỉ định họp nhau do chính Đức Thánh Cha triệu tập, vào những thời kỳ nhất định, hoặc trong những trường hợp Đức Thánh Cha xét là cần thiết, với mục đích cổ vũ sự hiệp nhất chặt chẽ giữa vị Giám mục Roma (kế vị Thánh Phêrô, đứng đầu hàng Giám Mục) và chính các Giám mục (kế vị các Thánh Tông đồ) để bảo tồn và tăng trưởng đức tin và luân lư, tuân giữ và củng cố kỷ luật của Giáo Hội, và hơn nữa, để nghiên cứu các vấn đề liên hệ đến hoạt động của Giáo Hội trên thế giới.

Trong Thượng Hội Đồng, các Nghị phụ bàn thảo về các đề tài, về các vấn đề đă được đề nghị và phát biểu bằng lá phiếu, nhưng không có quyền quyết định và công bố các sắc lệnh về các vấn đề đă được bàn thảo và bỏ phiếu. Việc quyết định và phê chuẩn sau cùng luôn luôn là quyền của của Đức Thánh Cha, trừ khi ngài cho phép cách công khai các Nghị phụ được quyết định. Các vị cộng tác chỉ có quyền "cố vấn" mà thôi. Quyền của Giám mục Roma là quyền tuyệt đối, dựa trên lời Chúa phán với Thánh Phêrô thủ lĩnh của Tông đồ đoàn: "Này con là đá, Thầy sẽ xây Giáo Hội trên tảng đá này...” (Mt 16,18). “Con hăy củng cố đức tin của anh em con" (Lc 22,32). Thánh Phêrô thi hành quyền này dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần: Ngài là Thần Chân Lư. V́ thế, chúng ta có thể nói: Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới chỉ là "Cơ quan Cố vấn" giúp Đức Thánh Cha trong việc quản trị Giáo Hội.

Thượng Hội Đồng khác hẳn Công đồng Chung: Công đồng Chung, với sự tham dự của tất cả các giám thế giới do Đức Thánh Cha triệu tập, có quyền bàn thảo, quyết định, nhưng luôn trong hiệp thông với vị Giám mục Roma và do ngài chuẩn y, công bố các Hiến chế, các Sắc lệnh, các văn kiện khác, như chúng ta thấy trong Công Đồng Chung Vatican II (1962-1965).

Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới có thể họp trong khoá chung thường lệngoại lệ. Thường lệ, nghĩa là theo hạn kỳ nhất định; ngoại lệ, không theo hạn kỳ nhất định. Trong các khoá họp này các Nghị phụ bàn thảo về các đề tài liên hệ trực tiếp đến công ích của toàn thể Giáo Hội. Thượng Hội Đồng c̣n có thể được triệu tập trong khoá đặc biệt, để bàn thảo về các vấn đề liên hệ trực tiếp một hay nhiều miền nhất định. Chẳng hạn như Khoá họp Thượng Hội đồng Giám mục Mỹ Châu, đang diễn ra tại Roma, là khoá họp đặc biệt.

Đức Hồng y Jan Schotte quả quyết: Quyết định thành lập Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới là một quyết định do Chúa Quan pḥng, bởi v́ đă cho phép Viện Giám mục thi hành phận sự "đoàn thể tính" của giám mục đoàn. Thượng Hội Đồng là dụng cụ duy nhất trên cấp bậc hoàn vũ, để các giám mục thực hiện đoàn thể tính của giám mục đoàn (Hàng Giám mục Thế giới hiệp nhất với vị Giám mục Roma). Đức Hồng y nói: "Nh́n về các khoá họp của Thượng Hội Đồng từ trước tới giờ, tôi có thể nói một cách chắc chắn rằng Thượng Hội Đồng đă trở nên toàn phần của đời sống Giáo hội".

Trước hết, chúng ta cần nhớ rằng Thượng Hội đồng Giám mục đă được thiết lập bởi Đức cố Giáo Hoàng Phaolô VI, qua Tự sắc có tựa đề là "Apostolica Sollicitudo" (Sự Chăm sóc Tông đồ), được ban hành ngày 15-9-1965. Chính Đức Phaolô VI, trong buổi đọc Kinh Truyền Tin trưa Chúa Nhật ngày 22-9-1974, đă định nghĩa Thượng Hội đồng Giám mục như sau:

"Đây là một cơ chế Giáo Hội mà chúng tôi thiết lập lên sau Công đồng Vatican II, ngơ hầu củng cố sự hiệp nhất và cộng tác giữa các giám mục trên khắp thế giới với Toà Thánh. Cơ chế Thượng Hội đồng Giám mục thực hiện mục tiêu trên, nhờ qua bởi cuộc nghiên cứu chung liên quan đến những hoàn cảnh của Giáo Hội và qua bởi giải đáp chung cho những vấn đề có liên quan đến Sứ mạng của Giáo Hội. Thượng Hội đồng Giám mục không phải là một Công đồng, cũng không phải là một Quốc hội, nhưng như là một kiểu mẫu đặc biệt của Công nghị".

 

Bộ Giáo luật 1983 dành để nói về Thượng Hội đồng Giám mục trong các điều từ 342-348.

 

Điều 342: Thượng Hội nghị Giám mục là một đại hội gồm các giám mục được tuyển chọn từ nhiều miền khác nhau trên thế giới, tụ họp lại vào những thời kỳ được ấn định, để cổ vũ sự hiệp nhất chặt chẽ giữa Đức Thánh Cha với các Giám mục, và để giúp ư kiến cho Đức Thánh Cha trong việc bảo vệ và tăng tiến Đức tin và phong hoá, và trong việc duy tŕ và củng cố kỷ luật Giáo Hội; ngoài ra, c̣n để nghiên cứu các vấn đề liên quan tới hoạt động của Giáo Hội trong thế giới.

 

Điều 343: Thượng Hội nghị Giám mục có thẩm quyền bàn thảo tất cả các vấn đề đă đề ra và bày tỏ ư kiến của ḿnh, nhưng không có thẩm quyền để biểu quyết hay ban hành nghị quyết về các vấn đề đó; trừ những trường hợp nhất định, khi Đức Thánh Cha cho Thượng Hội nghị được quyền biểu quyết; lúc ấy, Đức Thánh Cha có quyền phê chuẩn các quyết định của Thượng Hội nghị.

 

Điều 344: Thượng Hội nghị Giám mục phục tùng trực tiếp quyền bính của Đức Thánh Cha. Thẩm quyền của ngài là:

1o triệu tập Thượng Hội nghị mỗi khi thấy thuận lợi, và chỉ định nơi hội họp;

2o phê chuẩn việc bầu cử những thành viên nào mà theo quy luật riêng cần được bầu, và chỉ định cùng bổ nhiệm các thành viên khác;

3o ấn định đề tài của những vấn đề sẽ thảo luận, vào thời gian xứng hợp, trước khi Thượng Hội nghị khai họp, theo quy luật riêng;

4o hoạch định chương tŕnh nghị sự;

5o đích thân hay nhờ những người khác chủ toạ Thượng Hội nghị;

6o bế mạc, di chuyển, đ́nh chỉ và giải tán Thượng Hội nghị.

 

Điều 345: Thượng Hội nghị Giám mục có thể nhóm họp hoặc là trong Đại hội chung, thông thường hay bất thường, trong đó bàn thảo về những công việc liên hệ trực tiếp tới lợi ích của toàn thể Giáo Hội; hoặc là trong đại hội đặc biệt, trong đó bàn thảo những công việc liên hệ trực tiếp tới một hoặc nhiều miền nhất định.

 

Điều 346: §1 Khi nhóm họp Đại hội Chung thông thường, Thượng Hội nghị Giám mục gồm đại đa số phần tử là các giám mục đă được các Hội đồng Giám mục chọn cho từng Đại hội, chiếu theo thể thức được ấn định do luật riêng của Thượng Hội nghị; một số khác được chính luật chỉ định; một số nữa được Đức Thánh Cha trực tiếp bổ nhiệm; thêm vào đó là vài phần tử khác thuộc Ḍng tu Giáo sĩ được lựa chọn theo quy tắc của luật riêng.

 

§2 Khi nhóm họp Đại hội Chung ngoại thường để bàn về những vấn đề đ̣i hỏi một giải pháp mau lẹ, Thượng Hội nghị Giám mục gồm đa số các phần tử là các giám mục được chỉ định do luật riêng của Thượng Hộinghị chiếu theo chức vụ đương đảm nhiệm; một số khác do Đức Thánh Cha trực tiếp bổ nhiệm; thêm vào đó là vài phần tử thuộc Ḍng tu Giáo sĩ được lựa chọn theo đúng như quy tắc của luật riêng.

§3 Khi nhóm họp Đại hội đặc biệt, Thượng Hội nghị gồm các phần tử được lựa chọn từ những miền mà v́ đó mà Thượng Hội nghị được triệu tập, chiếu theo quy tắc của luật riêng điều hành Thượng Hội nghị.

 

Điều 347: §1 Khi Đại hội của Thượng Hội nghị Giám mục đă được Đức Thánh Cha bế mạc, th́ chức vụ đă giao phó cho các giám mục và cho các phần tử khác trong Thượng Hội nghị cũng chấm dứt.

§2 Nếu Toà Thánh trống toà sau khi đă triệu tập Thượng Hội nghị hoặc đang khi họp, th́ chiếu luật, Đại hội của Thượng Hội nghị bị đ́nh hoăn; cũng vậy, các chức vụ đă giao phó cho các phần tử trong Thượng Hội nghị cũng bị đ́nh chỉ, cho đến khi tân Giáo hoàng quyết định hoặc giải tán hoặc tiếp tục Đại hội.

 

Điều 348: §1 Thượng Hội nghị Giám mục có một văn pḥng thường trực dưới sự điều khiển của một Tổng Thư kư được Đức Thánh Cha bổ nhiệm; để giúp đỡ Tổng Thư kư, có một Hội đồng Văn pḥng gồm bởi các giám mục, trong số đó, một vài vị được chính Thượng Hội nghị lựa chọn theo quy luật riêng, một số khác được Đức Thánh Cha bổ nhiệm; chức vụ của tất cả những người này chấm dứt khi bắt đầu nhóm Đại hội mới.

§2 Ngoài ra, vào mỗi Đại hội của Thượng Hội nghị Giám mục sẽ bổ nhiệm một hoặc nhiều thư kư đặc biệt, do Đức Thánh Cha chỉ định; những người này chỉ ở lại chức vụ đă giao phó cho tới khi Đại hội của Thượng Hội nghị kết thúc.

Sinh hoạt và thành phần tham dự Thượng Hội Đồng được Đức Phaolô VI ấn định trong Tự sắc thiết lập ngày 15-9-1965, theo đó có đại diện các giám mục theo Hội đồng Giám mục (cho khoá họp thông thường th́ 25 giám mục 1 đại diện, 50 giám mục 2 đại diện, 100 giám mục 3 đại diện, trên 100 giám mục 4 đại diện; khoá họp ngoại thường th́ Chủ tịch Hội đồng Giám mục; khoá họp đặc biệt th́ đại diện theo một tỷ lệ khác hơn khoá họp thông thường) cùng với các vị đứng đầu các Cơ quan của Toà Thánh là thành phần chính thức được gọi với danh nghĩa là “nghị phụ” (Sodalibus). Ngoài ra c̣n có các dự thính viên (Auditores) và các đại diện (Delegati fraterni) của các Giáo hội và cộng đoàn Giáo hội anh em. Trong khoá họp c̣n thêm các chuyên viên (Adiutores Secretarii Specialis) phụ giúp Văn pḥng Tổng Thư kư.

Tại Giáo triều có một Văn pḥng Thường trực được gọi là Văn pḥng Tổng Thư kư Thượng Hội đồng Giám mục, đứng đầu là một Tổng Giám mục (hiện nay là Đức cha Nikola Eterovic) có nhiệm vụ điều hành công việc thường xuyên.

Thường th́ diễn tiến mỗi khoá họp Thượng Hội đồng Giám mục bắt đầu với việc Đức Thánh Cha chọn chủ đề, ấn định ngày họp. Rồi Văn pḥng Tổng Thư kư chuẩn bị và gửi đến các Hội đồng Giám mục và các cơ quan bản văn Lineamenta (Đề cương, trong đó có ghi những câu hỏi để các Hội đồng Giám mục góp ư), tiếp đến là bản văn Instrumentum laboris (Tài liệu làm việc). Từ đây, các thành viên chuẩn bị tham luận cho khoá họp. Đức Thánh Cha cũng bổ nhiệm vị tường tŕnh viên và chủ toạ đoàn. Bước vào khoá họp có 3 giai đoạn: 1. các nghị phụ tham dự tŕnh bày tham luận; 2. chia tổ thảo luận (circuli minores); 3. soạn sứ điệp gửi dân Chúa và biểu quyết các đề nghị (Propositiones) đệ tŕnh Đức Thánh Cha. Thời gian cho khoá họp thay đổi tuỳ theo h́nh thức của khoá họp (thông thường trong 3-4 tuần, ngoại thường trong 2 tuần, đặc biệt khoảng từ 2-3 tuần). Khoá họp chấm dứt, công việc được tiếp tục với hoạt động của Văn pḥng Tổng Thư kư và các thành viên được đề cử (15 vị) giúp đỡ để Đức Thánh Cha ban hành Tông huấn Hậu Thượng Hội đồng.

Tổng kết tóm tắt về các khoá họp Thượng Hội đồng từ đầu cho đến nay:

 

1. Khoá họp thông thường Thượng Hội đồng Giám mục lần thứ nhất, đă diễn ra từ ngày 29/9–29/10/1967, về đề tài: “Ǵn giữ và cũng cố Đức tin Công giáo, sự toàn vẹn, sức mạnh, sự khai triển, sự mạch lạc trên b́nh diện giáo lư và phát triển lịch sử”. (197 nghị phụ)

2. Khoá họp ngoại thường đầu tiên, đă diễn ra từ ngày 11–28/10/1969, về chủ đề: “Sự Cộng tác giữa Toà Thánh và các Hội đồng Giám mục”. (146 nghị phụ)

3. Khoá họp thông thường lần thứ II, từ ngày 30/9–06/11/1971 (tức 4 năm sau, so với buổi họp đầu tiên vào năm 1967), về chủ đề: “Chức Linh mục Thừa tác và Sự Công bằng trên Thế giới”. (210 nghị phụ)

 

4. Khoá họp thông thường lần thứ III, từ ngày 27/9–26/10/1974, về chủ đề: “Rao giảng Phúc Âm trong Thế giới Hiện đại”. à Tông huấn “Evangelii nuntiandi” ngày 08/12/1975. (209 nghị phụ)

 

5. Khoá họp thông thường lần thứ IV, từ ngày 30/9–29/10/1977, về chủ đề tài: “Việc Giảng dạy Giáo lư trong Thời đại Chúng ta”. Ngày 06/8/1978, Đức Phaolô VI băng hà, rồi Đức Gioan Phaolô I cũng băng hà sau 33 năm kế vị (26/8-28/9). à Tông huấn Catechesi Tradendae (Về Giáo lư trong Thời đại của Chúng ta): Tông huấn này được Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II ban hành vào ngày 16-10-1979, qua đó ngài nhấn mạnh đến việc lấy Chúa Kitô làm nền tảng chính của mọi chương tŕnh giảng dạy giáo lư, để giúp bồi dưỡng đời sống đức tin cho người Kitô giáo, từ già cho đến trẻ, và ngài cũng cùng đề cập tới những vấn đề khác như: đề ra chương tŕnh giảng dạy hợp lư, hệ thống hoá nội dung và tính trung thực của giáo lư, nhiệm vụ của các đức giám mục, các linh mục, các nam nữ tu sĩ, các giáo lư viên, các trường học và gia đ́nh trong việc giảng dạy giáo lư. (204 nghị phụ)

 

6. Khoá họp đặc biệt của Thượng Hội đồng Giám mục Hà Lan, từ ngày 14–31/01/1980, về chủ đề tài: “Hoàn cảnh Mục vụ tại Hà Lan”. (19 nghị phụ)

 

7. Khoá họp thông thường Thượng Hội đồng Giám mục lần thứ V, từ ngày 26/9–25/10/1980 về chủ đề tài: “Gia đ́nh Kitô”. à Tông huấn Familiaris Consortio (Về Vai tṛ của Gia đ́nh Kitô giáo trong Thế giới Tân tiến/Hiện đại): Tông huấn này được Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II ban hành ra vào ngày 22-11-1981, qua đó, ngài đề cập đến hoàn cảnh của các gia đ́nh trong thế giới ngày nay, kế hoạch của Thiên Chúa về chuyện hôn nhân và gia đ́nh, vai tṛ của gia đ́nh Kitô giáo, việc chăm sóc mục vụ cho các gia đ́nh, việc gia đ́nh tạo ra một cộng đồng nhân loại, việc gia đ́nh tham dự vào sự phát triển của xă hội, viêc gia đ́nh cùng sẻ chia với sứ vụ và đời sống của Giáo Hội, về quyền của các trẻ em và người già, về vai tṛ của cha mẹ trong việc giáo dục con cái, và việc kế hoạch hoá gia đ́nh và điều tiết sinh sản. (216 nghị phụ)

 

8. Khoá họp thông thường lần thứ VI của Thượng Hội đồng Giám mục, từ ngày 29/9–29/10/1983, về chủ đề: “Đền tội và Hoà giải trong Sứ mạng của Giáo Hội”. à Tông huấn Reconciliatio et Paenitentia (Về Việc Hoà giải và Đền tội): Tông huấn này được Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ban hành vào ngày 2-12-1984, qua đó ngài mời gọi tất cả chúng ta hăy tái khám phá lại những ngôn từ của Chúa Kitô như “Hăy ăn năn, sám hối, và tin vào Phúc Âm!” Ngài muốn cho mọi người biết về sự quan tâm của Giáo Hội để biết và hiểu được con người trong thời kỳ tân tiến hiện nay, để mang t́nh yêu của Chúa Kitô nhằm làm xoa dịu, và chữa lành những chia rẽ, những ngăn cách đớn đau trong thế giới ngày nay. (221 nghị phụ)

 

9. Khoá họp ngoại thường lần thứ hai, từ ngày 24/11–08/12/1985, về chủ đề: “Kỷ niệm 20 năm Kết thúc Công đồng Vatican II”. à Ngày 11/10/1992 kỷ niệm 30 năm khai mạc Công đồng Vatican II, ấn bản tiếng Pháp của Sách Giáo lư Hội Thánh Công Giáo được cố Giáo hoàng đáng kính Gioan Phaolô II ban hành theo thỉnh cầu của các Chủ tịch Hội đồng Giám mục. Sau đó, ngày 15/8/1997 ấn bản mẫu Sách Giáo lư được công bố. (165 nghị phụ)

 

10. Khoá họp thông thường lần thứ VII, từ ngày 01–30/10/1987, về chủ đề tài: “Ơn gọi và Sứ mạng của Giáo dân trong Giáo Hội và trong Thế giới”. à Tông huấn Christifideles Laici (Về Người Giáo dân trong Giáo Hội và Thế giới): Tông huấn này được Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ban hành ra vào ngày 30-12-1988, qua đó ngài muốn khuấy động và cổ vũ một sự nhận thức sâu sắc về hồng ân và trách nhiệm mà người giáo dân cùng chia sẻ, ở cấp độ cá nhân lẫn tập thể đối với sứ vụ của Giáo Hội, về phẩm giá của người giáo dân, về vai tṛ của người nam lẫn nữ, và về đời sống của giáo xứ. (232 nghị phụ)

 

11. Khoá họp thông thường lần thứ VIII, từ 30/9–28/10/1990, về chủ đề:Việc Huấn luyện Linh mục trong Những Hoàn cảnh Ngày nay”. à Tông huấn Pastores Dabo Vobis (Về Việc Đào tạo các Linh mục): Tông huấn này được Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ban hành ra vào ngày 25-3-1992, qua đó ngài đề cập đến sự khan hiếm về ơn gọi linh mục tại một số nơi trên thế giới và gọi mời việc rao giảng trực tiếp về mầu nhiệm của ơn gọi, phân tích các yếu tố tiềm ẩn nơi xă hội vốn cản ngăn đến ơn kêu gọi, và đồng thời ngài cũng nêu ra những yếu tố thuận lợi để thu hút ơn kêu gọi. Ngài cũng khẳng định việc linh mục độc thân tại các Giáo hội Tây phương, bàn thảo về những đại và tiểu chủng viện, sự trưởng thành của các linh mục, việc không ngừng đào tạo và học hỏi, những ứng viên lớn tuổi gia nhập vào chức tư tế; các vai tṛ của giáo dân và phụ nữ trong việc đào tào linh mục, cùng với những vấn đề khác. (238 nghị phụ)

 

12. Khoá họp đặc biệt Thượng Hội đồng Giám mục Âu Châu, từ 28/11–14/12/1991, về chủ đề tài: “Ngơ hầu chúng ta có thể là những chứng nhân của Chúa Kitô, Đấng đă giải phóng chúng ta”. (137 nghị phụ)

 

13. Khoá họp đặc biệt Thượng Hội đồng Giám mục Phi Châu, từ ngày 10/4–08/5/1994, về chủ đề tài: “Giáo Hội tại Phi Châu và sứ mạng rao giảng Phúc Âm hướng đến năm 2000 : Các con sẽ là những chứng nhân của Ta” (Cv 1,8). à Tông huấn Ecclesia in Africa (Về Giáo Hội tại Phi Châu): Tông huấn này được Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ban hành ra vào ngày 14-9-1995, qua đó ngài chỉ ra các vấn nạn tại Phi Châu, đó là việc nghèo đói ngày càng gia tăng, những vấn nạn về nhân quyền, và sự tự do của con người, việc đô thị hoá, vấn đề nợ nần quốc tế, vấn đề buôn bán vũ khí, sự giải phóng của phụ nữ, vấn nạn về những người tị nạn và di dân, những mối quan ngại và đe doạ về mặt nhân khẩu học đối với các gia đ́nh, sự lan truyền của căn bệnh AIDS, sự tồn tại của chế độ nô lệ tại một số quốc gia, chủ nghĩa vị chủng (ethnocentricity), sự chống đối của các bộ lạc trước những thách đố nền tảng, những mối quan hệ giữa Kitô giáo và Hồi giáo, việc bản vị hoá (inculturation) đức tin, việc đào tạo giáo dân, linh mục, cùng với những vấn đề khác có liên quan đến việc rao giảng Tin Mừng. (242 nghị phụ)

 

14. Khoá họp thông thường lần thứ IX, từ ngày 02–29/10/1994, về chủ đề: “Đời Tận hiến và Vai tṛ của nó trong Giáo Hội và trong Thế giới”. à Tông huấn Vita Consecrata (Về Đời sống Thánh hiến): Tông huấn này được Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ban hành ra vào ngày 29-3-1996, qua đó ngài đề cập đến 3 lời khấn về sự khó nghèo, vâng lời và trinh khiết, cũng như về những h́nh thức cũ và mới của đời sống tu ḍng, vai tṛ của các vị bề trên/giám tỉnh, vai tṛ của các nam/nữ tu ḍng trong việc giáo dục ở cấp bậc Cao đẳng lẫn Đại học, vai tṛ của linh mục và thầy ḍng trong các ḍng tu đa hỗn hợp, và những vấn đề khác. (245 nghị phụ)

 

15. Khoá họp đặc biệt của Thượng Hội đồng Giám mục về LIBAN, từ ngày 26/11– 4/12/1995, về chủ đề: “Chúa Kitô là Niềm Hy vọng của Chúng ta: Được canh tân bởi Chúa Thánh Thần, trong t́nh liên đới, chúng ta làm chứng cho t́nh yêu Thiên Chúa”. à Tông huấn A New Hope for Lebanon (Về Một Niềm Hy vọng Mới cho Đất nước Libăng): Tông huấn này được Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II viết ra khi ngài đến viếng thăm Liban vào ngày 10-11-1997. (69 nghị phụ)

 

16. Khoá họp đặc biệt của Thượng Hội đồng Giám mục Mỹ Châu, từ ngày 16/11–12/12/1997, về chủ đề tài: “Gặp gỡ với Chúa Giêsu Kitô hằng sống: con đường hoán cải, hiệp thông và liên đới tại Mỹ Châu”. Tông huấn Ecclesia in America (Về Giáo Hội tại Mỹ Châu La Tinh): Tông huấn này được Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ban hành ra vào ngày 23-1-1999, qua đó, ngài nhấn mạnh đến công tác mục vụ, việc hợp tác truyền giáo, việc di dân, việc giáo dục, việc đối thoại liên tôn, vai tṛ của các đức giám mục, các linh mục, các phó tế, triều cũng như ḍng, và giáo dân, việc cổ vũ ơn gọi, mục vụ giới trẻ. Ngài cũng c̣n đem ra áp dụng những thách đố về các vấn đề xă hội chẳng hạn như việc tham nhũng, việc buôn bán ma tuư, môi trường, việc chạy đua vũ trang, việc toàn cầu hoá, việc nợ nần của các nước thuộc Thế giới Thứ Ba, cũng như về nhân quyền của tất cả mọi người, kể từ khi hăy c̣n là trẻ trong bụng mẹ măi cho đến khi đă luống tuổi, già nua. (233 nghị phụ)

 

17. Khoá họp đặc biệt của Thượng Hội đồng Giám mục Á Châu, từ ngày 19/4–14/5/1998, về chủ đề: “Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc và Sứ mạng Yêu thương và Phục vụ của Ngài tại Á Châu: Để họ được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10). à Tông huấn Ecclesia in Asia (Về Giáo Hội tại Á Châu): Tông huấn này được Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ban hành ra vào ngày 6-11-1999, qua đó, ngài nhấn mạnh đến sứ vụ rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội tại Á Châu lục địa, là nơi mà hơn 2/3 dân số thế giới, hiện đang sinh sống, ngoại trừ Philippines, Kitô giáo hăy c̣n là một tôn giáo thiểu số. Ngài nói: “Sẽ không có sự rao giảng Tin Mừng thật sự, nếu không biết loan báo về Chúa Giêsu là chính Thiên Chúa, và việc giảng dạy đó phải tôn trọng quyền của lương tâm, v́ đức tin đ̣i hỏi sự đáp trả tự nguyện của mỗi cá nhân”. Ngài cũng c̣n đề cập đến việc bản vị hoá, những giảng dạy về xă hội của Giáo Hội, sự nghèo đói và áp bức, sự phát triển kinh tế, việc chạy đua vũ trang, việc tham nhũng nơi các chính phủ, việc tự do tôn giáo, việc đối thoại liên tôn, và về nhiều vấn đề khác nữa. (191 nghị phụ)

 

18. Khoá họp đặc biệt Thượng Hội đồng Giám nục Châu Đại Dương, sẽ được tổ chức từ ngày 22/11–12/12/1998, về đề tài: “Chúa Giêsu Kitô và các dân tộc của Châu Đại Dương: bước đi trên con đường của Chúa, rao giảng sự thật của Chúa, và sống sự sống của Chúa”. à Tông huấn Ecclesia in Oceania (Về Giáo Hội tại Châu Đại Dương): Tông huấn này được Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ban hành ra vào ngày 22-11-2001, qua đó, ngài nhấn mạnh đến việc rao giảng Tin Mừng mới “là một ưu tiên hàng đầu cho Giáo Hội thuộc khu vực Châu Đại Dương,” và “thời gian đă chín muồi để rao giảng Tin Mừng cho những người dân tộc của vùng Thái B́nh Dương”. Ngài bàn đến những ảnh hưởng của việc hiện đại hoá tại Châu Đại Dương, vai tṛ của các giáo lư viên, việc đối thoại liên tôn, trào lưu chính thống, những giảng dạy của Giáo Hội về xă hội; tính bất khả xâm phạm của sự sống, việc lạm dụng t́nh dục bởi các tu sĩ, về những người bản xứ, về tầm quan trọng của Phúc Âm, về phụng vụ, về vai tṛ của những người nữ, về vai tṛ của các linh mục và phó tế, về cuộc sống thánh hiến tu ḍng, về giáo dân, cùng nhiều vấn đề khác nữa. (117 nghị phụ)

 

19. Khoá họp đặc biệt Thượng Hội đồng Giám mục Âu Châu lần 2, từ ngày 01–23/10/ 1999, về chủ đề: “Chúa Giêsu Kitô, Sống động trong Giáo Hội, Nguồn mạch của Hy vọng cho Âu Châu”. Nói là "lần thứ 2", v́ Thượng Hội đồng Giám mục Âu Châu lần thứ nhất là vào năm 1991. à Tông huấn Ecclesia in Europa (Về Giáo Hội tại Châu Âu) ngày 28-6-2003, qua đó, ngài nhấn mạnh chủ đề về Chúa Giêsu Kitô như là “niềm hy vọng của chúng ta,” và “niềm hy vọng của Phúc Âm”, như đă được đề cập đến trong Sách Khải huyền. Đức Thánh Cha đề cập tới những thách đố và những dấu hiệu hy vọng của Giáo Hội tại Âu Châu, những nhu cầu cấp thiết của việc rao giảng Phúc Âm của niềm hy vọng, việc đối thoại với các tôn giáo khác, việc Phúc Âm hoá nền văn hoá, và sự cần thiết để chú trọng đặc biệt đến nhiều khuôn mặt khác nhau của giới truyền thông đại chúng, về phụng vụ, về việc mang đến cho những người nghèo một niềm hy vọng mới, và việc di cư. (165 nghị phụ)

 

20. Khoá họp thông thường Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới lần thứ X, từ ngày 30/9–27/10/2001, về chủ đề tài: “Giám mục: nguời tôi tớ của Phúc Âm Chúa Giêsu Kitô để mang lại hy vọng cho thế giới”. à Tông huấn Pastores Gregis (Về Giám mục là tôi tớ về Phúc Âm của Chúa Giêsu Kitô cho Niềm Hy vọng của Thế giới): Tông huấn này được Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ban hành ra vào ngày 16-10-2003, kỷ niệm 25 năm giáo hoàng. (247 nghị phụ)

 

21. Khoá họp thông thường Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới lần thứ XI từ 02-23/10/2005 với chủ đề: Bí tích Thánh Thể, Nguồn mạch và Chóp đỉnh Đời sống và Sứ vụ của Giáo Hội” được Đức Beneđictô XVI tiếp nối sau khi Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II đáng kính băng hà ngày 2/4. à Tông huấn Sacramentum Caritatis (Về Bí tích Thánh Thể, Nguồn mạch và Chóp đỉnh của Đời sống và Sứ vụ của Giáo Hội): Tông huấn này được Đức Beneđictô XVI ban hành vào ngày 22-2-2007. (252 nghị phụ)

 

22. Khoá họp thông thường Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới lần thứ XII từ ngày 5-26/10/2008 với chủ đề “Lời Chúa trong Đời sống và Sứ vụ của Giáo Hội” được Đức Beneđictô XVI triệu tập.

Trong thời gian họp, sẽ có thánh lễ khai mạc vào Chúa Nhật 05/10 và bế mạc vào Chúa Nhật 26/10 tại Đền thờ Thánh Phêrô. Cũng tại Đền thờ Thánh Phêrô có thánh lễ phong thánh vào Chúa Nhật 12-10 cho 4 tân hiển thánh:

 

1.   Linh mục người Ư ở Naples, GAETANO ERRICO (1791–1860), được phong chân phước 14/4/2002, là một tông đồ của Thánh Tâm Chúa Kitô. Thụ phong linh mục năm 1815. Chưa bao giờ bỏ tĩnh tâm thường niên tại Ḍng Chúa Cứu Thế ở Pagani, gần Salernô, ở đó Thánh Alphongsô Liguori hiện ra với ngài năm 1818: Chúa muốn ngài lập ra một cộng đoàn ḍng tu và xây dựng một thánh đường dâng kính Mẹ Sầu Bi. Thánh đường được làm phép cung hiến năm 1830 và một cộng đoàn dâng hiến cho Rất Thánh Trái Tim Chúa và Rất Thánh Trái Tim Mẹ Maria được lập ra và ngài kiệt sức với việc làm cho mọi người biết ḷng yêu mến xót thương của Chúa cho đền khi trút hơi thở cuối cùng ngày 29-10-1860. Lễ mừng ngày 29/10.

2.   Là thừa sai ở Nam Mỹ, Chân phước MARIE-BERNARDE BUTLER (1848–19240) nữ tu người Thuỵ Sĩ, được phong chân phước 29/10/1995, sáng lập D̉NG ĐỨC BÀ TRUYỀN GIÁO, truyền giáo lâu ngày ở Ecuador và Colombia. Gia nhập Ḍng nữ Phan Sinh, năm 1888, ngài được bầu làm bề trên của tu viện ở Altstatten. 8 năm sau, ngài đi truyền giáo ở Nam Mỹ, nơi ngài sáng lập Ḍng Đức Bà Truyền Giáo mà ơn gọi là làm công việc dạy học và bác ái. Ngài qua đời ngày 19-5-1924 ở Colombia. Lễ mừng ngày 19/5.

3.   Một nữ tu Ấn Độ bang Kerala, Chân phước ALPHONSINE MẸ VÔ NHIỄM (Anna Muttathupadam, 1910–1946), được phong chân phước 08/02/1986. Bang Kerala là bang Ấn Độ theo đạo rất đông. Ước ao đi tu, nhưng bị gia đ́nh ép lấy chồng, ngài đă tự gây thương tích bằng việc đút cả bàn chân vào lửa. Gia nhập Ḍng nữ Clara, ngài học yêu mến thập giá v́ Đức Kitô chịu đóng đinh và muốn tham gia công cuộc tông đồ của Giáo Hội bằng những đau khổ của ngài. Ngài được ban rất nhiều ơn siêu nhiên, như là nói tiếng Tamoul mà ngài chưa hề học hoặc có đặc ân nh́n thấy tương lai. Lễ mừng ngày 27/7.

4. Một nữ giáo dân người Ecuador, Chân phước NARCISSE DE JESUS MARTILLO Y MORAN (1831–1869), được phong chân phước 25-10-1992. Sinh ra ở Nobol, nước Ecuador, mồ côi trước khi được 20 tuổi. Ngài tự ra những đánh phạt thân xác nghiêm nhặt để cầu cho các tội nhân ăn năn trở lại. Nhiều người tận mắt chứng kiến ngài xuất thần, hiệp thông mật thiết với Thiên Chúa. Ngài qua đời ở tuổi 37. Lễ mừng 08/12.

 

 

 

B. Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới có ích lợi ǵ?
(Cập nhật: 30/10/2008 14:52:56)

 

Thượng Hội Đồng đến rồi Thượng Hội Đồng đi, đến nay đă là lần thứ 12 và ngay lúc THĐ này chưa chấm dứt th́ đă có chuyện “bầu bán” một hội đồng gồm 15 vị giáo phẩm cao cấp đại diện mọi miền thế giới để chuẩn bị cho THĐ kế tiếp, dù chưa biết THĐ ấy khi nào họp và họp về vấn đề ǵ. Có người hỏi: Thượng Hội Đồng phải chăng cũng chỉ là một cuộc chạy đua marathon bằng lời giữa các bậc thức giả và mục tử 5 châu? Nào có ích lợi chi? Như Nathanael ngày xưa khi được Philip kể về Chúa Giêsu thành Nazareth, đă “phang” một câu: “Có chi đáng giá phát xuất từ Nadarét đâu?”. Philip chỉ ôn tồn bảo: “Th́ đến mà coi!”.


Thành tựu dĩ văng

Các THĐ ít khi gây được hiệu quả trực tiếp, tức khắc đối với cuộc sống của tín hữu. Tuy nhiên, một số THĐ trong quá khứ được nhiều người ghi nhớ nhờ các đóng góp đáng kể cho Giáo Hội và thế giới.

Cha Thomas Rosica, CSB, một trong năm tuỳ viên báo chí của THĐ lần này, nhắc tới THĐ năm 1971, là THĐ đă bàn đến cả 2 vấn đề: chức linh mục thừa tác và công lư trên thế giới. Về chủ đề thứ hai, các giám mục đă đưa ra lời tuyên bố hết sức sâu sắc như sau: “Đối với chúng tôi, hành động nhân danh công lư và tham gia vào việc biến cải thế giới chính là một chiều kích cấu thành sứ mệnh rao giảng Phúc Âm”. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, sau đó, đă ủng hộ ư niệm ấy khi minh xác rằng hành động v́ công lư không phải là việc tuỳ tiện muốn làm hay không trong lối sống Kitô giáo của một thiểu số ưu tú.

Sau THĐ năm 1974 về Phúc Âm hoá, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đă ban hành một tông huấn, được nhiều nghị phụ của THĐ lần này trích dẫn, nhấn mạnh tới trách nhiệm của mọi người Công giáo phải truyền bá Tin Mừng. Ngài cũng khẳng định vai tṛ độc đáo của các nhà truyền giáo trong thế giới hiện đại và thách đố đặc biệt phải bản vị hoá Phúc Âm bằng cách kính trọng các phong tục và niềm tin của địa phương.

Sau THĐ năm 1980 về gia đ́nh, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II khuyến khích các gia đ́nh hăy “trở nên điều các con vốn là”, tức một cộng đồng nhân vị dấn thân vào đối thoại và phục vụ Giáo Hội cũng như xă hội, qua h́nh ảnh của Công đồng Vatican II coi gia đ́nh như một giáo hội tại gia.

Sau THĐ năm 1988 về giáo dân, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đă lên tiếng ca ngợi sự tham gia của hàng ngũ giáo dân vào sinh hoạt của Giáo Hội, không quên tái khẳng định ơn gọi đầu hết của họ là “lên men” cho xă hội.


Các hệ quả trực tiếp

Cha Thomas Rosica cho rằng trái với thái độ của những kẻ hoài nghi, hơn bất cứ THĐ nào trước đây, THĐ lần này sẽ có những hệ quả trực tiếp đối với người Công giáo và các Kitô hữu khác. Cha dựa vào sứ điệp sau cùng của THĐ lần này để quả quyết việc đó.

Sứ điệp trên đă được toàn thể THĐ chấp thuận tại phiên khoáng đại thứ 21. Đây là một sứ điệp dài, do một học giả Thánh Kinh Ư là Đức Tổng Giám mục Gianfranco Ravasi soạn thảo. Ngài vốn là một nhân vật nổi tiếng của ngành truyền h́nh và hiện là Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Văn hoá, Di sản Văn hoá và Khảo cổ Thánh. Theo Cha Rosica, nội dung sứ điệp này đă được kết cấu chặt chẽ, có thể dùng làm tài liệu suy niệm sâu sắc về Thánh Kinh, tuy cần phải “được tháo gói” (unpacked). Sau đây là một số trích đoạn:


“4 điểm chúng tôi muốn kêu gọi sự chú ư của dân Chúa và chúng tôi xin đề cập tới 4 điểm này qua 4 h́nh ảnh sau đây: Tiếng Nói, Khuôn Mặt, Căn Nhà và Con Đường Lời Chúa.


“Tiếng Nói của Chúa… đă vang lên từ buổi nguyên thuỷ của sáng thế… làm xuất hiện các kỳ công của vũ trụ. Đó là một Tiếng Nói đă đi sâu vào lịch sử, một lịch sử vốn bị tội lỗi con người xé nát và đau thương cũng như chết chóc ám ảnh… Đó là một Tiếng Nói đă bước vào các trang Sách Thánh mà hiện ta đang đọc trong Giáo Hội dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần”.

 

“Khuôn Mặt đây là chính Chúa Giêsu Kitô, Đấng vốn là Con Thiên Chúa vĩnh hằng và vô biên, nhưng cũng là con người hay chết, nối kết với một giai đoạn lịch sử, với một dân tộc, với một lănh thổ”.

 

“Chính Người đă mạc khải cho ta ư nghĩa ‘đầy đủ và hợp nhất’ của Thánh Kinh, và nhờ thế, Kitô giáo là một tôn giáo đặt một con người làm trọng tâm của ḿnh, đó chính là Chúa Giêsu Kitô, Đấng mạc khải Chúa Cha. Chính Người đă giúp chúng ta hiểu: Thánh Kinh chính là ‘thân xác’”.


“Căn Nhà Lời Chúa… chính là Giáo Hội, một cơ chế, theo lời Thánh Luca, được chống đỡ bằng bốn cột trụ: “giảng giải” hay đọc và hiểu Thánh Kinh và công bố nó cho mọi người; “bẻ bánh” hay Thánh Thể, nguồn suối và đỉnh cao của đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội,… các tín hữu được mời gọi tới nuôi dưỡng ḿnh trong phụng vụ Lời Chúa và Ḿnh Máu Chúa; “cầu nguyện”… đọc Sách Thánh trong suy gẫm, cầu nguyện và chiêm niệm sẽ dẫn ta tới gặp gỡ Chúa Kitô, Lời của Thiên Chúa hằng sống; “hiệp thông huynh đệ”, v́ muốn là Kitô hữu đích thực, ‘nghe lời Chúa’ không đủ mà c̣n phải ‘thực hành lời ấy nữa’”.


”H́nh ảnh cuối cùng trong bản đồ thiêng liêng này là Con Đường trên đó Lời Thiên Chúa đang du hành… Lời Chúa phải chu du khắp các nẻo đường trên thế giới, mà ngày nay bao gồm cả những con đường truyền thông điện tử, truyền h́nh và gần như thực (virtual). Thánh Kinh phải đi vào các gia đ́nh… trường học và mọi môi trường văn hoá… Sự phong phú có tính biểu tượng, thi ca và thuật truyện biến nó thành dấu chỉ của cái đẹp, đối với cả đức tin lẫn văn hoá, trong một thế giới thường bị sự xấu xa và bạo tàn làm cho méo mó”.

“Tuy nhiên, Thánh Kinh cũng cho thấy những hơi thở đau đớn từ đất vọng lên, thoát thành tiếng oán của người bị áp bức, tiếng than của người bị bỏ rơi. Mà đỉnh cao chính là Thánh giá trên đó, Chúa Kitô, cô đơn và bị bỏ rơi, phải kinh qua thảm kịch đau đớn xé ḷng và sau cùng là cái chết. Chính nhờ có sự hiện diện này của Con Thiên Chúa, đêm đen của sự ác và sự chết bừng lên ánh sáng Phục Sinh và hy vọng vinh quang… Dọc các nẻo đường thế giới, ta thường gặp những người của các tôn giáo khác, những người đang lắng nghe và trung thành thực hành các giới luật trong các Sách Thánh của họ và đang cùng chúng ta xây dựng một thế giới hoà b́nh và đầy ánh sáng”.


Những điều ấm ḷng

Nhiều bài báo tường thuật khá méo mó về thủ tục đầu phiếu tại THĐ. Phải chứng kiến việc đầu phiếu thông qua các đề nghị cuối cùng, họ mới thấy tính hiệp đoàn (collegiality) trong Giáo Hội. Chỉ cần nhắc tới mức độ nhất trí hết sức cao cũng đă đủ, một mức độ mà các THĐ trước đây chưa bao giờ đạt được. Điều ấy khiến nhiều người thán phục tinh thần làm việc của các nghị phụ lần này.

Sự nhất trí trên cũng cho thấy sức làm việc tích cực của vị Tổng Phúc Tŕnh Viên là Đức HY Marc Ouellet và nhóm của ngài trong việc tổng hợp 354 điều tu chính, đề nghị viết lại cũng như gợi ư thành 55 đề nghị sau cùng, được mang ra đầu phiếu và chấp thuận để đệ tŕnh lên cho Đức Giáo Hoàng. Các đề nghị này sẽ giúp Đức Thánh Cha trong việc soạn thảo tông huấn hậu THĐ.

 Trong cuộc họp báo tŕnh bày các đề nghị cuối cùng này, ĐHY Ouellet gọi THĐ là một hành tŕnh, một cuộc gặp gỡ. Chúng ta như các môn đệ trên đường Emmaus, vừa bước đi vừa thảo luận nhiều điều liên quan tới các biến cố từng xẩy ra trước đó ở Giêrusalem. Tuy nhiên THĐ cũng đem lại những giây phút gặp gỡ kỳ thú, không phải gặp lời lẽ mà là gặp gỡ Ngôi Lời là chính Chúa Giêsu Kitô. Ta phải mang Người đến cho con người và cho thế giới.

Sau cuộc họp báo kéo dài một tiếng đồng hồ, Đức Hồng y Marc Ouellet trở lại Đại Sảnh đường Phaolô VI để dự tiệc chia tay do Đức Giáo Hoàng khoản đăi các nghị phụ, nhưng chỉ kịp ăn tráng miệng. Cuối bữa tiệc này, Đức Giáo Hoàng ứng khẩu nói truyện với cử toạ. Ngài lên tiếng cám ơn mọi người từ hồng y, tổng giám mục, giám mục tới các chuyên viên, dự thính viên, đại biểu các Giáo hội anh em đến các nhân viên kỹ thuật. Điều hết sức đặc biệt là Ngài cám ơn cả những nhân viên lo ẩm thực. Ngài nói: “Cha cũng muốn cám ơn những người lo ẩm thực đă chuẩn bị bữa ăn trưa tuyệt diệu này và mọi người phục dịch. Cám ơn chúng con v́ hồng ân này”. Ai bảo vị giáo hoàng “bác học” này thiếu ấm áp! Vị Giáo hoàng “bác học” này c̣n không quên “tếu” một câu làm ấm ḷng rất nhiều, vâng rất nhiều nghị phụ, khi ngài nh́n nhận ḿnh đă “vi phạm nhân quyền” v́ đă “tước đoạt” quyền nghỉ ngơi vào cuối tuần của các ngài (một số nghị phụ phải làm việc luôn các ngày cuối tuần!). Ngài hứa sẽ “sửa sai” trong các THĐ sắp tới. Khỏi nói, lời ngài đă được mọi người vỗ tay vang dội.

Cũng nên nhắc lại điều ấm ḷng nữa là trong THĐ lần này, câu truyện Emmaus được lặp đi lặp lại rất nhiều lần, đủ để chứng minh rằng học hỏi Thánh Kinh không phải chỉ là việc của trí mà thôi mà c̣n là việc của tâm nữa. Chỉ với trái tim hồi hộp và bừng cháy, ta mới đạt được đức tin. Emmaus là câu truyện có đủ hoài nghi lẫn hy vọng. Điều ấm ḷng là người lữ hành với họ trên đường Emmaus đă nghiêm chỉnh tiếp nhận cả niềm hoài nghi lẫn hy vọng của họ để dệt thành niềm tin t́m lại! 4 cột trụ của Giáo Hội đều có mặt trong câu truyện đầy chất biểu tượng này.

Một điều nữa cho thấy tính chất ấm áp của vị Giáo Hoàng từng bị nhiều người cho là lạnh lùng này.Trong bữa tiệc chia tay vừa nhắc ở trên, Đức HY George Pell, Tổng Giám mục Sydney, đă dùng tiếng Ư, đại diện mọi người, đọc diễn văn chào mừng Đức Giáo Hoàng. Đức HY Pell nói đùa rằng THĐ này ít hứng thú nhất v́ là một THĐ có “nhiều thoả thuận và hiệp thông” nhất xưa nay. Đáp lời, Đức Giáo Hoàng cho hay ngài không biết liệu THĐ này có phải là THĐ ít hay nhiều hứng thú nhất, nhưng nhất định là cảm kích nhất. Ngài giải thích: lư do v́ khi nghe nhau nói về Lời Chúa, ta sẽ nghe Lời Chúa tốt hơn. Quả thế, ngài quả quyết rằng các tham dự viên quả đă học được cách lắng nghe Lời Chúa tốt hơn, khám phá ra nhiều khả thể mới trong nó. Suy gẫm và suy niệm không bao giờ múc cạn hết kho tàng vô giá này.


55 đề nghị sau cùng

Như trên đă tŕnh bày, THĐ đă đúc kết mọi tham luận và tranh luận thành 55 đề nghị tŕnh lên Đức Giáo Hoàng. Các đề nghị này đă được đưa ra để 244 nghị phụ đầu phiếu thông qua. Muốn được thông qua, mỗi đề nghị phải được 2/3 đa số chấp thuận. Tất cả 55 đề nghị đều đă được đa số ấy thông qua vào trưa Thứ Bảy vừa qua, cho thấy đây là một THĐ có mức nhất trí cao nhất kể từ khi Công đồng Vatican II tái lập định chế này.


Phần một

            Phần một bao gồm các đề nghị liên quan đến Lời Chúa trong đức tin của Giáo Hội. Các đề nghị ở phần này đưa ra các gợi ư để các cộng đoàn Kitô hữu hiểu và sống tốt hơn mối liên hệ của họ với Ngôi Lời, tức Chúa Giêsu Kitô, Đấng ta có thể gặp trong lúc đọc và suy gẫm Sách Thánh.

Các gợi ư trên nhấn mạnh tới vai tṛ Chúa Thánh Thần, Giáo Hội và Thánh truyền, cũng như mối liên hệ thân thiết giữa Thánh Kinh và Thánh Thể.

Có ba đề nghị tŕnh bầy Lời Chúa như Lời hoà giải, Lời dấn thân v́ người nghèo, và là căn bản của luật tự nhiên. Phần này cũng xem sét mối liên hệ giữa Cựu Ước và Tân Ước.


Phần hai

Phần hai (các đề nghị từ 14 tới 37) xem sét Lời Chúa trong đời sống Giáo Hội. Trong đó, các ư tưởng cụ thể đă được đưa ra nhằm cải thiện việc giảng lễ (homilies), duyệt lại sách các bài đọc, cũng như cổ vũ cách đọc Lời Chúa (lectio divina). Cũng ở phần này, có đề nghị thiết lập chức đọc sách cho phụ nữ. Phần này cũng kêu gọi việc phải vượt qua sự chia rẽ giữa các nhà chú giải và các nhà thần học hay giữa các nhà chú giải và các mục tử. Đề nghị số 37 có một giá trị lịch sử v́ nó tiếp nhận phần đóng góp của Thượng phụ Chính Thống giáo Bartholomew I của Constantinople.


Phần ba

Các đề nghị từ 38 tới 54 đề cập tới Lời Chúa trong sứ mệnh của Giáo Hội. Phần này nói đến mối liên hệ của Lời Chúa với nghệ thuật và văn hoá, cũng như việc dịch và phổ biến rộng răi Thánh Kinh. Nó cũng đề cập tới việc truyền đạt Lời Chúa trong truyền thông cũng như lối đọc Thánh Kinh có tính cực đoan và hiện tượng giáo phái (sects). Nó cũng đưa ra các đề nghị liên quan tới đối thoại liên tôn, cổ vũ việc hành hương và nghiên cứu tại Đất Thánh, đối thoại với Do Thái giáo và Hồi giáo, cũng như mối liên hệ giữa Lời Chúa và việc bảo vệ môi trường.

Đề nghị cuối cùng dành cho Đức Mẹ Maria, mời gọi cổ vũ việc đọc Kinh Truyền Tin và Kinh Mân Côi, chiêm niệm Lời Chúa qua đôi mắt Mẹ Chúa Kitô.

Điều hết sức đặc biệt là theo truyền thống, các đề nghị của THĐ đuợc giữ bí mật, nhưng Đức Bênêđictô XVI đă yêu cầu Văn pḥng Tổng Thư kư của THĐ cho đăng tải bản dịch tạm, không chính thức bằng tiếng Ư cho công chúng đọc.


Lời Chúa là ưu tiên của Giáo Hội

Bài giảng trong Thánh Lễ kết thúc THĐ đă giải thích nghĩa cử trên của Đức Bênêđictô XVI. Ngài cho hay: ưu tiên đối với Giáo Hội ngày nay trên hết là tự nuôi dưỡng bằng Lời Chúa, để có thể đẩy mạnh việc tân Phúc Âm hoá.

Ngài cho hay các kết luận của THĐ phải được “đưa tới cho mọi cộng đoàn” sao cho “mọi người hiểu rơ nhu cầu phải biến lời đă nghe thành hành động yêu thương, v́ chỉ nhờ cách ấy, việc công bố Lời Chúa mới khả tín, bất chấp các yếu đuối của con người”. Đức Thánh Cha nhiều lần nhấn mạnh tới tầm quan trọng của mối liên kết giữa việc nghe Lời Chúa và việc Phúc Âm hoá, như điểm căn bản trong chứng tá Kitô hữu giữa trần gian, nhất là với những người không tin.

Nhắc tới ư nghĩa bài Phúc Âm trong ngày, Đức Thánh Cha cho hay: “Viên măn của Lề Luật, trong tư cách Lời Chúa, là t́nh yêu. Ai nghĩ rằng ḿnh đă hiểu Thánh Kinh, hay ít nhất một phần của nó, mà không cố gắng dùng trí khôn để bồi đắp ḷng yêu mến kép kính Chúa yêu người, th́ trên thực tế chỉ chứng tỏ là họ c̣n xa lắm mới hiểu được ư nghĩa thâm sâu của nó”.

 

 

C. Một vài điểm đáng chú ư của

Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới lần thứ XII

(từ ngày Chúa Nhật 5-10-2008 đến ngày Chúa Nhật 26-10-2008)

Về đề tài: “LỜI CHÚA

TRONG ĐỜI SỐNG VÀ SỨ VỤ CỦA GIÁO HỘI”

 

            Xin ghi lại một vài điểm và chi tiết để chúng ta biết và cùng hiệp thông với toàn thể Giáo Hội trong biến cố quan trọng và có tính cách hoàn vũ này.

            Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới kỳ thứ XII này có mấy điểm mới. Đó là:

1)     Ngày khai mạc, v́ là năm kính Thánh Phaolô nên Đức Thánh Cha Beneđictô XVI sẽ cùng các Nghị phụ cử hành Thánh lễ khai mạc tại Đền thờ Thánh Phaolô ngoại thành. Tuy nhiên, Thánh lễ bế mạc sẽ cử hành tại Đền thờ Thánh Phêrô tại Vatican. Thánh Phaolô cũng là vị rao giảng Lời Chúa, Phúc Âm cho khắp vùng Tiểu Á, cho tới Rôma, và có lẽ tới cả Tây Ban Nha.

2)     Rồi lần đầu tiên Đức Thượng phụ Chính Thống đại kết Bartolomeo I tại Constantinople sẽ ngỏ lời với Đức Thánh Cha và các Nghị phụ trong khoá họp ngày 18-10-2008, sau khi ngài đă cùng Đức Thánh Cha cử hành Giờ Kinh Chiều.

3)     Rồi cũng là lần đầu tiên một người Do Thái được Đức Thánh Cha Beneđictô XVI mời đặc biệt và sẽ nói trước Đại Hội vào chiều ngày 6-10-2008: đó là Rabbi no trưởng của Haifa (Israel), Shear Yashyv Cohen. Rabbino sẽ nói về đề tài: người Do Thái đọc Kinh Thánh và chú giải Kinh Thánh thế nào: Sách Luật, Tiên tri, và các sách Khôn ngoan. Rabbino sẽ nói ngay sau khi Đức Hồng y Albert Vanhoye, S.I., cựu Viện trưởng và Giáo sư Học viện Giáo hoàng Kinh Thánh tại Rôma, cho biết người Kitô hữu nh́n về Kinh Thánh của người Do Thái như thế nào. Đức Hồng Y cũng tŕnh bày một số tiêu chuẩn để giải thích Kinh Thánh theo như văn kiện của Uỷ ban Kinh Thánh phổ biến năm 2001.

4)     Đức Thánh Cha Beneđictô XVI cũng mời đặc biệt 2 vị khác nữa: đó là Tiến sĩ A. Muller Milloy, Tổng Thư kư Hiệp hội United Bible Society (Anh Quốc); và thầy Alois, Tu viện Trưởng Cộng đoàn Taizé (Pháp).

5)     Đây cũng là lần đầu tiên áp dụng nội quy mới về Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới, được ban hành năm 2006. Nội quy mới này thu tập và bao gồm vào một bản văn và điều khoản, những thay đổi từ 40 năm nay.

6)     Lần đầu tiên các Giáo hội Công giáo Đông phương tham dự Thượng Hội đồng Giám mục theo những điều khoản mới liên hệ tới họ: như khi một vị Thượng phụ ngăn trở không thể tham dự được th́ có thể thay thế người khác với sự chấp thuận của Công nghị của Nghi lễ và của Văn pḥng Tổng Thư kư Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới. Giáo hội Đông phương cũng áp dụng việc chọn các đại diện đi họp, như áp dụng cho Nghi lễ Latin: cứ 25 giám mục th́ được chon một đại diện đi họp. Số đại diện tối đa cho mỗi nước là 4 đại diện, cho dù con số giám mục trên 100 vị.

7)     Lần đầu tiên cuộc bàn căi tự do được mở rộng và được dành cho nhiều thời giờ, 10 phút hay hơn nữa và đề tài tự do không chỉ định trước. Các đóng góp viết gửi tới Văn pḥng Tổng Thư kư vẫn giữ nguyên như cũ.

8)     Trong Thượng Hội đồng Giám mục này, vị tường tŕnh viên chung là Đức Hồng y Marc Ouellet, người Canada, và vị Tổng Thư kư đặc biệt là Đức Cha Laurent Monsengwo Pasinya, Tổng Giám mục Kinshasa, nước Cộng hoà dân chủ Congo (Zaire cũ). Như vậy, tính cách hoàn vũ của Giáo Hội được thể hiện.

9)     Các Thánh Lễ do Đức Thánh Cha chủ sự được xếp đăt xen kẽ trong thời gian họp Thượng Hội đồng Giám mục này như sau:

·        Đức Thánh Cha Beneđicto XVI sẽ chủ sự Thánh Lễ khai mạc (5-10-08) và bế mạc (26-10-2008).

·        Vào ngày thứ năm, 9-10-2008, ngài sẽ chủ sự Thánh lễ kỷ niệm 50 năm ngày qua đời của Đức Giáo Hoàng Piô XII, vị Giáo Hoàng đă cổ vũ cho việc học hỏi Lời Chúa trong Giáo Hội.

·        Ngày Chúa Nhật, 12-10-2008, Đức Thánh Cha cũng sẽ chủ sự lễ phong thánh cho 4 chân phước: Linh mục Gaetano Errico, nữ tu Maria Bernarđa Butler, nữ tu Alfonsa Đức MẹVô Nhiễm (vị hiển thánh đầu tiên của Giáo Hội tại Ấn Độ), và thánh giáo dân Narcisa di Gesù Martillo Moran.

·        Ngày 19-10-2008, Đức Thánh Cha sẽ đi hành hương Đền Thánh Đức Mẹ Pompei và sẽ chủ sự Thánh Lễ tại đó.

·        Về số người tham dự và lo cho Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới lần này, có khoảng hơn 400 người. Tính ra như sau:

- 253 Nghị phụ đại diện cho :

·        13 Nghị phụ thuộc Giáo hội Đông phương

·        113 Nghị phụ do các Hội đồng Giám mục đề cử

·     &nbs