17:45 ICT Thứ ba, 23/05/2017

Khoảnh khắc kỳ diệu

Nhà tỷ phú và người hầu bàn

 
/web/uploads/news/2012_05/hoa-tim.jpg

Học hỏi giáo lý giáo phận Phần 2

Phần II: Câu 1 và câu 2

 
/web/uploads/news/2016_06/hoi.jpg

Thánh lễ tốt nghiệp giáo lý phổ thông

chúc các em bước vào đời với một sự tự tin và khiêm hạ

 
/web/uploads/news/2017_05/lop-12.jpg

Kẻ Ăn Cắp Một Ổ Bánh Mì

Dửng dưng trước nỗi khổ của người khác không là một thái độ vô thưởng vô phạt,

 
/web/uploads/news/2012_05/banh-mi.jpg

GIÁO HUẤN SỐ 26/ 2017

Yêu thương phục vụ trong niềm xác tín và cậyt rông với Thiên Chúa

 
/web/uploads/news/2016_11/giao.jpg

Ta Không Kết Án Con

giang tay ôm trọn lấy anh vào lòng

 
/web/uploads/news/2012_05/trai-tim-den.jpg

Nghe nhạc: Hát về Mẹ

Bao ngày mẹ mong....

 
/web/uploads/news/2012_05/me-gia.jpg

Ngày họp mặt CCSTS tại giáo xứ Trà Kê

như muốn dồn nén tất cả những hy sinh của bao lớp cha ông ngày xưa

 
/web/uploads/news/2012_05/ccs.jpg

PHẢI CHĂNG CŨNG MỘT CHỮ “VÌ” ?

Một lần gặp để bắt đầu đi theo con đường mới.

 
/web/themes/default/images/news/noimg-ns1.jpg

GIÁO HUẤN SỐ 25/2017

Yêu thương phục vụ trong Đức Kitô, Đường, Sự Thật, Sự Sống.

 
/web/uploads/news/2016_11/giao.jpg

Thánh lễ an táng cụ Phểô Lê Xuân Huệ

cụ chỉ có một tham vọng đó là làm đẹp lòng Ngườ

 
/web/uploads/news/2017_05/img_0705.jpg

CẦU NGUYỆN CHO ƠN THIÊN TRIỆU 2017

có người trẻ nào dám tự nguyện để phục vụ lại Đấng đã yêu thương mình không?

 
/web/uploads/news/2012_05/on-1.jpg

Nội san Cựu chủng sinh - Tu sĩ - số 13

giúp nhau sống đạo đức hơn, biết đơn sơ đồng hành cùng giáo hội

 
/web/uploads/news/2012_05/viet-2.gif
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1
1

Nội san Cựu chủng sinh - Tu sĩ - số 13

Đăng lúc: Chủ nhật - 07/05/2017 18:36 - Người đăng bài viết: Gx -Tuy Hòa
NỘI SAN CỰU CHỦNG SINH TU SĨ - SỐ 13

Lời nói đầu

 
Mỗi năm hoa phượng nở. Lại thấy một lớp già. Rủ nhau tới nhà xứ. Ôn kỷ niệm đã qua  …
 
Vâng mỗi nắng hạ về, mỗi lễ Chúa Chiên Lành đến là anh chị em CCS-TS Phú Yên lại rủ nhau tới nhà xứ để cùng ôn kỷ niệm những ngày đi tu.
 
Nhìn mặt biết địa chỉ, nhìn bộ dạng biết tu ra. Mà cái bọn tu ra thì có biết bao là kỷ niệm. Vậy nếu nói mục đích gặp nhau là để ôn kỷ niệm cũng chẳng sai. Nhưng điều đó cũng không hoàn toàn đúng. Vì mọi sinh hoạt trong giáo hội kể cả các hội đoàn công giáo dưới nhãn quan đức tin đều được nâng quan điểm hết. Không có gì là trần tục với những người đang trên đường lữ hành dương thế. Tất cả đều hướng về một cùng đích, đó là Thiên Chúa, là đời sau.
 
Vậy mục đích hội CCSTS là gì ? Qua chia xẻ của các mục tử trong nội san kỳ này, chúng ta có thể hiểu đó là giúp nhau sống đạo đức hơn, biết đơn sơ đồng hành cùng giáo hội với tâm tình một người con thảo. Mùa chay thì sám hối, tháng Đức Mẹ thì lần chuổi, tháng Thánh Tâm thì yêu mến Nhà Tạm… Là biết giáo dục con cái sống theo lương tâm công giáo và biết hướng dẫn khuyến khích chúng dâng hiến cuộc đời cho Chúa, tận hiến trên cánh đồng truyền giáo…
Như vậy hôm nay, ngoài mục đích ôn chuyện xưa tích củ thì khi gặp nhau, chúng ta cũng hãy biết nâng quan điểm của mình lên …
 
 
CHIA SẺ
Lm Phêrô Đặng Son
 
Anh chị em CCS-TS thân mến,
 
Ai trong chúng ta cũng cảm nhận xã hội hiện nay rất suy đồi về đạo đức. Và chúng ta giống như mọi người thích lên án, thích kết tội, nhưng mấy ai quyết tâm phải làm gì đó để cứu xã hội khỏi sa lầy! Thực ra cũng có nhiều người rất có tâm đưa ra nhiều trị liệu pháp như pháp luật phải nghiêm minh, phải sửa đổi giáo dục..vv.. Những giải pháp này đều đúng nhưng chưa đủ: Vì chúng ta cũng thấy nhiều nước luật pháp rất nghiêm minh nhưng tội ác vẫn gia tăng, nền giáo dục rất tốt nhưng đạo đức vẫn suy đồi vì nơi những xã hội này thiếu một yếu tố rất quan trọng là họ không để Thiên Chúa hiện diện, không để niềm tin tôn giáo xen vào sinh hoạt xã hội.
 
Ngày 13/5/2017 là đúng 100 năm Đức Mẹ hiện ra ở Fatima. Trong Sứ điệp Fatima, Đức Mẹ mời gọi chúng ta ăn năn sám hối, siêng năng lần hạt Mân Côi và tôn sùng Mẫu Tâm để cứu thế giới. Đây là trị liệu pháp tuyệt vời nhất vì nó vừa tầm cho mọi người và mọi người có thể thực hiện mà không ai có thể ngăn cản. Trong bối cảnh xã hội hiện đại với cách tổ chức mà chúng ta phải chấp nhận, tôi xin đề nghị mọi người đặc biệt là anh chị em CCS-TS, những người từng ở Nhà Chúa, thực hiện trị liệu pháp này:

1/ Ăn năn sám hối: Nói tới ăn năn sám hối thường chúng ta chỉ nghĩ tới việc tránh xa tội lỗi và nếu lỡ phạm tội thì đi xưng tội để được tha thứ, ít khi chúng ta nghĩ tới việc lâu nay lòng yêu mến Chúa và tha nhân nơi chúng ta càng ngày càng sút giảm nên có hiện tượng vô cảm và dối trá, đi lễ thì càng nhanh càng tốt, chẳng tha thiết để Lời Chúa thanh tẩy và biển đổi, chẳng tha thiết để Mình Thánh Chúa nên sức sống mới, một cách sống đạo theo thói quen mà không có Chúa ở cùng. Ăn năn sám hối phải là gia tăng lòng Mến Chúa Yêu người.

2/ Siêng năng lần hạt Mân Côi: Dường như việc lần hạt Mân Côi trở nên quá tải đối với chúng ta ngay cả trong kinh tối gia đình, giới trẻ xa gia đình càng không biết tới việc lần hạt Mân Côi. Trong khi việc lần hạt Mân Côi là phương thế gìn giữ và gia tăng đức tin trong các thế hệ cha ông chúng ta vì Chúa Giêsu Kitô luôn là trung tâm của việc lần hạt Mân Côi: Đến với Chúa Kitô nhờ Mẹ Maria “Ad Jesum per Mariam”, như thế qua việc lần hạt Mân Côi, chúng ta để Chúa Giêsu Kitô luôn hiện diện trong cuộc sống của chúng ta. Mong rằng mỗi người chúng ta quyết tâm phục hồi việc lần hạt Mân Côi hằng ngày.

3/ Tôn sùng Mẫu Tâm: Giáo dân Việt Nam chúng ta thường chạy đến với Mẹ, nhưng dường như chỉ chạy đến khi bản thân hoặc gia đình có vấn đề cần Mẹ cứu giúp, hóa ra Mẹ chỉ là thầy thuốc: Nghe chỗ này chỗ kia Mẹ hay cứu giúp, chúng ta bôn ba chạy đến kêu cầu, còn Mẹ tại nhà thờ, tại hang đá, tại gia đình, chúng ta chẳng đoái hoài, nhiều khi để mạng nhện đóng đầy. Chúng ta chưa đến với Mẹ như một người con thảo yêu mến Mẹ ruột của mình. Xin anh chị em CCS-TS hãy nêu gương việc tôn sùng Mẫu Tâm.

Như thế sống sứ điệp Fatima là chúng ta để Chúa luôn hiện diện trong cuộc sống, trong thế giới và xác tín chỉ có Chúa mới cứu được chúng ta, cứu được thế giới vì “không việc gì Thiên Chúa không làm được”, và chúng ta tin Mẹ luôn cầu xin điều tốt đẹp nhất cho chúng ta và cho thế giới. Amen
 
 
NHỮNG MẢNH ĐẤT MÀU MỠ...
Lm Antôn Nguyễn Huy Điệp
 
Ngày 25.04.2017, năm Linh mục của tỉnh Phú Yên, thuộc giáo phận Qui Nhơn, đã tổ chức Thánh lễ mừng kỷ niệm Pha lê Linh mục tại Nhà thờ Tuy Hòa, nơi các vị đã được Đức Cha Phêrô truyền chức Linh mục vào ngày 25.04.2002.
 
Trước giờ Thánh lễ, rất đông quan khách đã tập trung. Giữa dòng người đang hân hoan mau mắn bước vào Thánh Đường, có một người, tuổi độ lục tuần, cũng đang bước vào, nhưng lững thững, chậm rãi, nét mặt tươi vui, cũng muốn chung chia biến cố đặc biệt này…
 
Người ấy là một “Ông Cố”, chưa thất thập cổ lai hy, sau một cơn tai biến tưởng chừng không qua khỏi, nay đang sức khỏe đang phục hồi theo năm tháng. Ông cố hiện có một người con đang là Linh mục của giáo phận Qui Nhơn.
 
Với ông cố này, tôi nhớ lại vài kỷ niệm tại đây. Khi ấy tôi làm thày giúp xứ Tuy Hòa, thời Cha cố Văn. Mới về giúp xứ chưa được bao lâu, thì vào một buổi sáng, có một người đến gặp và đề nghị một chuyện: “ Con cũng vừa mới về sống tại Tuy Hòa sau thày khoảng một tháng. Điều con mong muốn là được làm một công việc nào đó giúp giáo xứ, vì con là cựu chủng sinh”. Mừng như buồn ngủ bặp chiếu manh, tôi lập tức nhận lời. Và từ đó, vị cựu chủng sinh này đã là một giáo lý viên tuyệt vời, sau đó còn làm chức việc, cho đến khi đau bệnh.
 
Lại một câu chuyện khác lúc buổi chiều, có người giáo dân đến nhà xứ để xin một chuyện lạ thường: Xin chứng nhận bỏ đạo để gả con cho người lương mà không mắc lỗi. Trong lúc chuẩn bị ra tiếp khách, tôi không ngờ ông cố đã có mặt ngoài phòng khách từ lúc nào, và cũng đã nghe biết ý định của khách. Tôi nghe ông cố “phán” thật rõ ràng: “ Nếu con chị bỏ đạo để lấy chồng, thì sớm muộn gì nó cũng bỏ chồng. Chúa mà còn bỏ được thì chồng nhằm nhò gì”.
 
Tôi bỗng cảm nhận một điều, khi nghĩ về anh chị em cựu chủng sinh và tu sĩ (CCSTS), những người đã có một thời gian sống trong “Nhà Chúa”, nay đang là chồng, vợ, cha, mẹ, ông bà nội ngoại: Sự nhiệt tâm phục vụ và chất tu vẫn đậm nét trong cuộc đời, dù trong vai trò một giáo dân, dù thời gian trong nhà tu chẳng bao lâu.
 
Rất nhiều trường hợp các CCSTS đang giúp mục vụ tại các giáo xứ. Và quả thật, mời các CCSTS giúp mục vụ thường dễ dàng và hiệu quả hơn giáo dân bình thường, vì tư cách và khả năng sẵn có.
 
Nhưng một sự thực khác cũng khách quan hiện nay trong giới CCSTS, là hậu duệ của họ đang tiếp nối con đường cha ông đã đi. Trong số con cái của những anh chị em CCSTS Phú yên hiện nay đã có 2 Linh mục và 1 nữ tu. Đây chắc chắn không phải là con số sau cùng.
 
Theo tôi biết, một trong những sinh hoạt cựu chủng sinh đang rất mạnh là Hội cựu chủng sinh Lâm Bích ( gốc giáo phận Nha Trang ). Hàng năm, anh chị em đều tổ chức ngày họp mặt, năm nay nơi này, năm sau chỗ khác. Thành phần tham dự lên đến vài trăm, không chỉ là những người trong cuộc, mà cả gia đình vợ con. Một trong những quan tâm của anh em là nuôi dưỡng ƠN GỌI cho các thế hệ kế tiếp, mà gọi theo mã số là các thế hệ F1 ( đời con ), F2 ( đời cháu )… Và trong thực tế đã có nhiều Linh mục Tu sĩ xuất thân từ các gia đình mà cha hoặc ông là cựu chủng sinh Lâm Bích. 
 
Từ hiện tượng trên, thực tế đã cho thấy: Bình thường, nếu Ơn gọi làm Linh mục Tu sĩ đã phát sinh từ những gia đình giáo dân đạo đức trong các giáo xứ, thì bên cạnh đó, còn từ một thửa đất đặc thù khác, là gia đình của các CCSTS.
 
Rồi nhìn vào các Linh mục Tu sĩ thế hệ F1 của Phú Yên, tôi cảm nhận ra rằng: Hành trình  theo đuổi Ơn gọi cũng thật đặc biệt.
 
Như thế, chúng ta hãy luôn cố gắng gìn giữ và phát triển mối tương quan giữa các CCSTS. Câu chuyện chúng ta gặp nhau, không chỉ là chuyện của một thời trong quá khứ. Thời gian đó đã kết tinh thành mối tương quan bây giờ. Và bây giờ thêm chuyện làm cho đời tu nối dài qua con cháu. Có một ông cố đã nói vui: “ Không làm được Linh mục, thì làm bố của Linh mục, cũng oai ra phết!”.
 
Những suy nghĩ và thực tế trên mở ra một mảnh đất cho CCSTS của mọi thời:
 
- Được ở trong Nhà Chúa một ngày bằng cả ngàn ngày nơi thế gian. Bằng chứng là anh chị không bao giờ quên mình là CCSTS. Trong thâm tâm, dấu ấn của Ơn gọi dù chỉ còn là kỷ niệm, vẫn có thể tác động để mình làm một điều gì đó hơn thường.
 
- Thiên Chúa và Giáo Hội luôn là một trăn trở cho những ai đã có lúc muốn dành cả cuộc đời để phục vụ. Nhưng với chương trình của Thiên Chúa, CCSTS được mời gọi tham gia phục vụ Chúa và Giáo Hội với phần đời nhỏ hơn, nhưng không kém hiệu quả nơi Giáo Hội.
 
- Kỷ niệm Ơn gọi và thao thức xây dựng gia đình Kitô hữu đạo đức, sẽ đóng góp tích cực cho một thửa đất màu mỡ, thuận lợi cho mầm mống Ơn Thiên Triệu trổ sinh. Nếu trong cuộc sống gia đình, con cái luôn chịu ảnh hưởng bởi cha mẹ, thì trong gia đình của CCSTS, bên cạnh những ảnh hưởng khác, mầm mống Ơn gọi dễ dàng nảy mầm hơn. Nếu đời con chưa được, thì đời cháu, đời chắt…Nghĩa là thế nào cũng có…
 
Hội CCSTS Phú Yên chọn ngày thứ hai sau Lễ Chúa Chiên Lành hàng năm làm ngày họp mặt, đã nói lên sự liên đới với bổn phận cổ võ Ơn gọi Linh mục Tu sĩ, trong chính môi trường sống của mình.
 
Đối với các Linh mục và Tu sĩ, anh chị em CCSTS luôn được mong đợi là những người thân, và là những cộng tác viên chân thành trong đời sống mục vụ.
 
Và như thế, các anh chị em CCSTS cũng đang sống Ơn gọi “thứ ba”, bên cạnh đời sống tu trì và đời sống gia đình hiện nay của Hội Thánh./.
Gx Sông Cầu, 02.05.2017
 

 
LƯƠNG TÂM : Vấn đề của mọi vấn đề.
Lm. Bạch Sơn Quỳnh
 
Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, ngài đã từng nói: "Chấm này nối tiếp chấm kia, ngàn vạn chấm thành một đường dài. Phút này nối tiếp phút kia, muôn triệu phút thành một đời sống. Chấm mỗi chấm cho đúng, đường sẽ đẹp. Sống mỗi phút cho tốt, đời sẽ thánh." Hơn thế nữa, câu nói: “Giới Trẻ là tương lai của Giáo hội và nhân loại”. Đó là câu khẳng định nhiều người đã biết. Nhưng đối diện với thực tế thì ai cũng thấy lo lắng cho tương lai ấy của họ. Do đó, lương tâm là một trong vấn đề quan trọng nhất của lãnh vực luân lý. Chúng ta có thể khẳng định, lương tâm ngay chính còn, thì đời sống xã hội và các quan hệ giữa con người vẫn còn tốt đẹp; nhưng khi lương tâm bị bóp nghẹt, cá nhân và xã hội cũng tàn dần theo dòng thời gian. Vấn đề lương tâm không chỉ là thuần túy luân lý mà còn là vấn đề của mọi vấn đề khác.
 
Trong công tác mục vụ, vấn đề giáo dục lương tâm đang trở thành một thách đố lớn cho Giáo hội và xã hội; bởi vì giới trẻ ngày ngay, trước những trào lưu tục hóa, đang có nguy cơ xa rời luân lý truyền thống, lương tâm dễ bị chôn vùi trong những dửng dưng trước những giá trị tinh thần, bị vùi lắp trong thế giới hưởng thụ, chủ nghĩa cá nhân, thực dụng của cơn lốc kinh tế thị trường. Với vai trò là người hướng dẫn, Giáo hội phải trình bày và giáo dục luân lý như thế nào để cho giới trẻ ngày nay có được một lương tâm ngay thẳng, một đời sống đúng với niềm tin Kitô giáo? Thiết nghĩ, đây không chỉ là vấn đề của Giáo hội mà còn là nỗi thao thức cũng như trách nhiệm của mỗi một người kitô hữu trưởng thành.
 
Trước khi tìm hiểu về việc giáo dục lương tâm nói chung, cách riêng lương tâm giới trẻ, chúng ta cần lược qua những thực trạng xã hội mà giới trẻ ngày nay đang phải đối diện.
 
1.   Khủng hoảng về những giá trị lương tâm
Đứng trước vòng xoay của xã hội, có lẽ giới trẻ ngày nay khó tránh khỏi tình trạng khủng hoảng về những giá trị lương tâm. Những trào lưu thăng tiến bản thân, thăng tiến xã hội đang xô người trẻ vào mê hồn trận của những thái độ chạy theo thành tích, vật chất, hưởng thụ, làm băng hoại xã hội, dẫn đến đánh mất định hướng cuộc đời. Cảm giác bất an trong một thế giới biến động của tranh chấp làm cho họ lao mình vào những tranh đua hơn thiệt, sống vội vàng, tìm cách luồn lách trong mọi lãnh vực cuộc sống, kể cả lương lẹo trong đời sống luân lý. Bên cạnh đó, các định chế luật pháp, phong tục tập quán của người xưa không còn hợp thời. Sự cấp tiến của giới lãnh đạo tiêu cực như: nhồi nhét, dạy nói dối, sống loại trừ ngay trong lĩnh vực giáo dục… Cho nên, còn người mất quân bình vì quá lo lắng đến thành quả cụ thể mà quên lãng những giá trị tinh thần.
 
Sự thay đổi cơ cấu và các giá trị xã hội thường làm cho con người đặt lại vấn đề ý nghĩa cuộc đời. Vì thế, giới trẻ luôn tìm cách đặt ngược lại vấn đề; lấy thành quả cụ thể để làm tiêu chuẩn cho luân lý, lèo lái hay hiểu sai về tiếng nói của lương tâm, nhiều khi còn lao mình vào con đường sa đọa. Điều này quả là một nguy cơ lớn trong giới trẻ, họ muốn mau chóng khẳng định mình trong bậc thang xã hội; những lo âu, khó khăn khiến họ nổi loạn vì thiếu suy xét, thiếu chuẩn bị, thiếu những quy chiếu đúng đắn và nhất là thiếu giáo dục…, cho nên những người trẻ có nguy cơ bị chìm trong một lương tâm ngái ngủ và lầm lạc, rơi vào con đường đánh mất chính mình một cách vô thức. Như vậy, giáo dục lương tâm cho giới trẻ là một điều hết sức cần thiết trong hoàn cảnh hiện nay. Nhưng trước tiên, Giáo hội cần phải xã định rõ quan điểm của mình về lương tâm kitô giáo để làm nền tảng cho những giáo huấn của mình.
 
2.   Lương tâm theo luân lý kitô giáo
Về bản chất của lương tâm Công đồng Vatican II trong Hiến chế Mục vụ về “Giáo Hội trong thế giới ngày nay” viết: “Con người khám phá ra tận đáy lương tâm một lề luật mà chính con người không đặt ra cho mình, nhưng vẫn phải tuân theo, và tiếng nói của lương tâm luôn luôn kêu gọi con người phải yêu mến và thi hành điều thiện cũng như tránh điều ác. Tiếng nói ấy âm vang đúng lúc trong tâm hồn của chính con người: hãy làm điều này, hãy tránh điều kia. Quả thật con người có lề luật được Chúa khắc ghi trong tâm hồn. Tuân theo lề luật ấy chính là phẩm giá của con người và chính con người cũng sẽ bị xét xử theo lề luật ấy nữa. Lương tâm là tâm điểm sâu kín nhất và là cung thánh của con người, nơi đây con người chỉ hiện diện một mình với Thiên Chúa và tiếng nói của Ngài vang dội trong thâm tâm họ. Nhờ lương tâm, lề luật được thực hiện trong sự yêu mến Thiên Chúa và anh em, và được biểu lộ cách kỳ diệu” (CĐ Vatican II, Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng số 16).
 
Như thế, lương tâm là nơi sâu thẳm nhất của con người, nhờ đó con người nhận biết điều lành điều dữ, đồng thời giúp con người hành động để chu toàn bổn phận làm người của mình. Mỗi người đều phải tuân theo chỉ thị của lương tâm vì đó là tiếng nói cuối cùng mà con người có thể nghe được Lời của Thiên Chúa. Theo lẽ đó, con người có quyền lợi và nghĩa vụ tuân theo tiếng nói của lương tâm.
 
Theo niềm tin kitô giáo, chúng ta cần khẳng định rằng lương tâm không phải một thứ thành quả ngẫu nhiên của tương quan xã hội, cũng không phải bản năng luân lý hoàn toàn cá biệt của mỗi người. Lương tâm thiết yếu là một phán đoán của lý trí nhằm chỉ dẫn đâu là điều đúng, đâu là sai trong hành động của mình. Trong bản thân mỗi con người, lương tâm có tính cách một quyết định tối tượng. Tuy nhiên, một lương tâm chỉ được xem là chân chính và có khả năng truyền đạt quyết lệnh tối thượng khi biết lắng nghe tiếng nói chân thật của chính lòng mình, nghe được tiếng nói của Thiên Chúa, hiểu được chính tiếng nói của Ngài hiện diện trong mình.
 
Trong tuyên ngôn về tự do Tôn giáo, Công đồng Vatican II đã khẳng định về quyền tối thượng của chân lý như sau: “Chân lý có quyền tối thượng trên lý trí, đầu hàng trước chân lý, qui phục trước chân lý, không phải là một sự thất bại đối với lý trí”. Như vậy, nói đến lương tâm là nói đến mối tương quan với Thiên Chúa. Là tiếng nói tối thượng, lương tâm không chỉ có quyền tối thượng mà còn có những nghĩa vụ phải tìm kiếm chân lý, khám phá ra những tiêu chuẩn luân lý khách quan như Hiến chế mục vụ của Công đồng Vatican II xác định: “Con người khám phá ra tận đáy lương tâm một lề luật mà chính con người không đặt ra cho mình, nhưng phải tuân theo, tiếng nói ấy âm vang đúng lúc trong tâm hồn của chính con người: hãy làm điều này, tránh điều kia. Quả thật, con người có lề luật được Chúa khắc ghi trong tâm hồn. Tuân theo lề luật ấy là chính phẩm giá của con người… Nhờ lương tâm lề luật được thực hiện trong sự yêu mến Thiên Chúa và trong anh em…” (Số 16).
 
Như thế, lương tâm phải có nghĩa vụ phải lắng nghe tiếng nói của Thiên Chúa, học biết những luật luân lý chi phối trật tự tự nhiên và siêu nhiên. Nói khác đi, lương tâm phải không ngừng học hỏi, tìm hiểu để những hành động phù hợp với chấn lý.
 
3.   Tự do lương tâm
 
Một trong những vấn đề thường gặp trong giới trẻ ngày nay đó là những người trẻ không ngừng nại vào tự do lương tâm trong mọi hành vi chọn lựa của mình. Lương tâm là phán đoán của lý trí về tính cách luân lý của hành động con người, là khả năng có thể định giá một hành động tốt hay xâu, đúng hay sai về mặt luân lý. Do đó, con người chỉ có thể nại đến lương tâm khi còn tin ở những giá trị luân lý, còn ý thức về trách nhiệm và còn có khả năng về tự do chọn lựa.
 
Chỉ có sự tự do lương tâm, hay lương tâm chỉ thực sự tự do, khi lương tâm đó được tự do để chu toàn chức năng của mình. Nói khác đi, lương tâm chỉ thực sự được tự do khi còn có thể phân biệt được thế nào là thiện, thế nào là ác, thế nào là đúng, thế nào là sai về mặt luân lý. Lương tâm không thể được xem là tự do khi mắc sai lầm, khi bảo tốt là xấu, khi bảo xấu là tốt. Cho nên, để có những phán đoán đúng đắn, lương tâm phải dựa vào những tiêu chuẩn luân lý khách quan, mà đối với người kitô hữu, tiêu chuẩn đó là giới luật của Thiên Chúa và giáo huấn của Giáo Hội. Càng tuân theo luật Chúa và giáo huấn của Giáo hội, lương tâm của người kitô hữu càng được tự do.
 
Ngày nay, nhiều người cho rằng quyền bính và giáo huấn của Giáo hội giới hạn tự do tư tưởng và tự do lương tâm của con người. Nhưng như thế nào là tự do tư tưởng? Phải chăng trí khôn của con người được tự do suy nghĩ bất cứ điều gì nó biết mà không màng đến sự thật và những qui tắc của luân lý? Một trí khôn như thế không thể là một trí khôn tự do được. Không tôn trọng sự thật khách quan và cũng chẳng quan tâm đến qui tắc luân lý, trí khôn sẽ rơi vào trạng thái sai lầm trong từ giây phút. Nói tóm lại, trí khôn của con người được tạo dựng không phải để suy nghĩ bất cứ điều gì, nhưng là suy nghĩ về sự thật, tìm kiếm sự thật.
 
Như vậy, đe dọa nguy hiểm nhất đối với tự do lương tâm không đến từ bên ngoài, mà chính là từ bên trong, và điều kiện đầu tiên để có và duy trì một lương tâm tự do chính là tuân phục tiếng nói của lương tâm ngay chính. Cho nên ta có thể hiểu được vai trò của Giáo Hội, nhất là khi đề ra những giáo huấn liên quan đến luân lý, không phải để kiểm soát hay hạn chế tự do tư tưởng tự do lương tâm, nhưng Giáo hội muốn giúp cho trí khôn con người được phát triển, và giúp cho lương tâm con người phán đoán phù hợp với những tiêu chuẩn khách quan.
Sau khi tìm hiểu những khó khăn và giới trẻ hôm nay đối mặt, cũng như trình bày thế nào là lương tâm đúng đắn, xin được đưa ra hai đường hướng căn bản nhằm tạo cho giới trẻ một lương tâm trong sáng, xứng với nhân cách kitô giáo.

4. Xây dựng cảm thức tội lỗi bằng đời sống đức tin.
Trào lưu tục hoá và khuynh hướng hưởng thụ đã làm cho người trẻ ngày nay dần mất đi cảm thức về tội. Điều này có nghĩa rằng, giới trẻ hôm nay không cảm thấy mình có tội, tự giảm chức năng của tội, hoặc tội phong trào: người ta làm được mình cũng làm được. Như thế, tội lỗi không còn khả năng làm cho lương tâm người trẻ bị giày vò hay cắn rứt nữa. Người trẻ triền miên phạm tội và mức độ tội ác ngày càng gia tăng, nhưng chính họ không cảm thấy mình có tội và ra như họ đã được miễn nhiễm với tội lỗi.
 
Con người thời đại vốn đối diện với tội ác như một sự kiện không thể chối cải được: hằng ngày, các phương tiện truyền thông mang lại cho con người biết bao những hình ảnh về tội ác. Nhưng dường như trong thâm tâm, con người thời đại, đặc biệt giởi trẻ lại muốn xóa bỏ mọi ý niệm về tội lỗi. Chẳng hạn, phá thai đang được nhiều người đấu tranh như một quyền của con người. Họ không còn cảm thấy xúc động hay ray rứt nào trước những hành vì như thế. Rồi đến những chém giết, tệ nạn xã hội, bạo động… đã đẩy con người đến trạng thái chai cứng lương tâm. Đức Giáo Hoàng Piô XII đã nhận định: “ngày nay có lẽ cái tội lớn nhất của thế giới là đánh mất ý thức về tội lỗi”. Mất cảm thức về tội lỗi đã làm cho thế hệ trẻ ngày càng đánh mất sự trong sáng của lương tâm, dẫn đến lẫn lộn trong việc phân định tốt xấu, quay lưng lại với những giá trị truyền thống, chà đạp lên cả nhân phẩm của tha nhân và chính mình.
 
Nguyên do chính là họ loại trừ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống, tự đặt mình lên hàng Thiên Chúa và có quyền sinh sát trong tay; họ tạo ra những tiêu chuẩn luân lý với chủ đích phục vụ cho tham vọng của mình, ích kỷ và dục vọng cá nhân. Khi đời sống thiếu vắng Thiên Chúa cũng có nghĩa mất đi chân lý, mất đi cứu cánh của Đấng là nguyên ủy mọi sự. Trong số 13 Hiến chế vui mừng Hy vọng, Công đồng Vatican II đã nói lên thảm cảnh này: “nhiều khi vì từ chối không nhìn nhận Thiên Chúa như nguyên ủy của mình, con người cũng phá đổ trật tự phải có để đạt tới cùng đích của mình, đồng thời phá vỡ hòa hợp với chính bản thân cũng như đối với người khác và với mọi thụ tạo”. Con người chối bỏ phẩm giá của mình bằng hành động chối bỏ phẩm giá của tha nhân. Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã có lý gọi đó là nền “Văn Minh Sự Chết”.
 
Bên cạnh đó, để khôi phục cảm thức về tội, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong Tông huấn Sám hối và Hoà giải nhắc nhở thêm: “Điều này (khôi phục cảm thức về tội) sẽ được hỗ trợ nhờ một nền giáo huấn chân chính được soi sáng bởi Thần học Kinh Thánh về Giao ước, nhờ việc chăm chú lắng nghe và tin tưởng đón nhận Huấn quyền của Hội Thánh không ngừng soi dẫn các lương tâm và nhờ việc thực hành chu đáo hơn nữa Bí tích Sám Hối”.
 
Như vậy, hơn bao giờ hết Giáo hội ngày nay phải không ngừng đào luyện cho giới trẻ một ý thức nhạy bén trước tội lỗi để họ có thể tự tái lập lại cho mình một lương tâm trong sáng, lành mạnh xứng hợp với phẩm giá con người. Bởi lẽ chỉ trong tương quan với Thiên Chúa, con người mới hiểu được thế nào là tội lỗi mà thôi.
 
5. Giáo dục cho giới trẻ cảm nhận được tình yêu.
Một trong những lý do thúc đẩy Giáo hội phải nhấn mạnh hơn việc giáo dục lương tâm đó là giới trẻ ngày nay dường như càng lúc càng xa lạ với những giá trị như bác ái, vị tha, quãng đại, bao dung, lòng nhân từ, chung thủy… xã hội thực dụng không cổ võ gì với những giá trị đó. Trong cơn lốc kinh tế thị trường, không còn sự nhường nhịn, không còn san sẻ, thông cảm với những con người bị cuốn vào cơ chế của nó. Hậu quả là giới trẻ dễ dàng đánh mất những giá trị cao cả mà không một vật chất nào có thể mua sắm hay so sánh được, và đương nhiên nơi họ không thể tồn tại lương tâm trong sáng, đúng đắn và lành mạnh được.

Giáo Hội nói chung và trách nhiệm của mỗi người chúng ta nói riêng, cần phải tái lập những giá trị tinh thần đó nơi tâm tức của người trẻ, tạo ra cho họ thấy được sự cần thiết và vị trí cao cả của yêu thương, bác ái, chia sẻ, cảm thông… Để làm được điều đó, chắc hẳn ngoài bổn phận của người người mục tử, còn có mỗi người chủ gia đình, giáo dục họ và cần phải có một đời sống tình yêu kitô giáo đích thực. Chính tình yêu chân chính mới mong đem lại cho con người sự nhạy cảm với những giá trị khách quan, vì lương tâm xét cho cùng chính là tiếng gọi yêu thương của Thiên Chúa.

Vì yêu thương Ngài đã tạo dựng và cứu rỗi con người. Con người chỉ có một ơn gọi là đáp trả tình yêu đó, nghĩa là sống yêu thương. Ai tách lìa khỏi tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân sẽ rơi vào lầm lạc, sẽ bị chôn vùi trong những phán đoán sai lạc, chủ quan và cả những hành vi không có lương tâm chút nào. Một lương tâm trong sáng và lành mạnh phải dựa trên nền tảng của yêu thương. Làm thế nào ta có thể hiểu được một người mẹ lại đang tâm giết chết mầm sống của mình đang còn trong bào thai, nếu như đó không phải là sự ích kỷ, thiếu yêu thương, thiếu tôn trọng sự sống của đứa con mình.
 
Như thế, để tạo cho giới trẻ có được một lương tâm trong sáng và lành mạnh, hơn bao giờ hết, Giáo hội mong muốn mỗi người chủ gia đình phải trở nên hình ảnh sống động của dấu chỉ yêu thương, phải là gương sáng trong tình yêu thương, và là những thầy dạy tình yêu đích thực. Vì giới trẻ ngày nay đang rất cần những chứng nhân về đời sống đạo, đời sống luân lý lành mạnh, hơn là những bài giảng thuyết hùng hồn mà không có được những dấu chứng đích thực.
 
Kết
Vấn đề lương tâm không chỉ là lãnh vực thuần túy luân lý, mà là vấn đề của mọi vấn đề, bởi vì khủng hoảng lương tâm cũng là căn nguyên mọi khủng hoảng khác. Cho nên, Giáo dục lương tâm hay huấn luyện lương tâm chính là giúp cho con người nhận thức được sự biến chất, thoái hóa cái tâm của mình và cố gắng cải thiện, cố gắng điều chỉnh để đưa cái tâm bị biến chất, thoái hoá về với cái chính tâm, cái tâm thiện tức là lương tâm.

Tất cả những gì trình bày ở trên chỉ là những bước khái quát về việc giáo dục lương tâm cho giới trẻ. Từ đó cố gắng nói lên tiếng nói cấp bách của việc giáo dục lương tâm cho giới trẻ hiện nay. Từ thực trạng khủng hoảng về giá trị lương tâm mà giới trẻ đang đối diện do tác động của những biến chuyển lớn trong xã hội: lắm thử thách, vàng thau lẫn lộn với những bậc thang giá trị bị thay đôi thì vai trò giáo dục lương tâm của tất cả chúng ta đang trở nên quan trọng hơn bào giờ hết.
 
Để sống trọn vẹn với nhân phẩm của mình, con người phải được giải thoát khỏi những kiềm tỏa của đam mê, tự do chọn lựa những điều thiện hảo và chịu trách nhiệm chính cuộc đời của mình. Do vậy, lương tâm phải được giáo dục, phải được Lời Chúa soi sáng, và được nuôi dưỡng trong đời sống đức tin cùng tiệm tiến trên con đường đức ái. Thánh Thần luôn là thầy dạy tuyệt vời giúp con người biết sống thế nào cho đúng với phẩm giá của mình, phẩm giá làm con Thiên Chúa.
 
  
XIN ĐƯỢC Ở TRONG NHÀ CHÚA
Lm. Laurensô M. Phan Ngọc Bích, CRM
 
Anh chị Thân Hữu thân mến,
Nói về vẻ đẹp và hạnh phúc gia đình, hẳn chúng ta có thể nghe biết bài hát “Bài Tango cho em” được nữ ca sĩ Ái Vân thể hiện:
“Từ ngày có em về, nhà mình tràn ánh trăng thề, giòng nhạc tình đã tắt lâu, tuôn trào ngọt ngào như giòng suối. Anh yêu phút ban đầu, đẹp nghiêng nghiêng dáng em sầu, trong mắt em buồn về mau, em ơi có khi nào lần gặp đây cho mai sau.

Tiếng đàn hòa êm ái, nhịp bước em thêm lả lơi, cung điệu buồn chơi vơi, đôi tâm hồn riêng thế giới. Mình dìu sát đi em, để nghe làn hơi cháy, trong tim nồng nàn. Tiếc thương chi trời rộng thênh thang, vương vấn để rồi một đời cưu mang.

Giờ mình có nhau rồi, đời đẹp vì tiếng em cười, vượt ngàn trùng qua bể khơi, dắt dìu cùng về căn nhà mới. Ta xây vách chung tình, nhiều chông gai có tay mình, xin cảm ơn đời còn nhau, ghi sâu phút ban đầu bằng bài tango cho em”.

Chia sẻ với anh chị em một điều gì đó vừa thánh thiêng mà cũng vừa đời thường, thật không dễ chút nào ! Cuộc đời của người Thân Hữu có quá nhiều sắc màu phong phú, vừa có cảm nghiệm của đời sống tu trì lại vừa có kinh nghiệm của đời sống gia đình. Có lẽ nếu anh chị Thân Hữu chia sẻ những trải nghiệm ấy cho nhau và cho những người tu trì thì thật tuyệt vời.

Nhưng có một ý tưởng được gợi lên trong mùa Phục Sinh này, có thể cho chúng ta một ý tưởng để cùng nhau tâm tình. Đó là : “Có một điều tôi xin Chúa, một điều tôi kiếm tìm, đó là tôi được cư ngụ trong nhà Chúa suốt đời tôi hầu vui hưởng sự êm đềm của Chúa và chiêm ngưỡng thánh điện của Ngài” (Tv 26,4 Đáp ca Thứ Sáu tuần II Phục Sinh).

Lời Chúa trên đây rõ ràng là rất thích hợp dành cho những người tu trì như các giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ, chủng sinh, tập sinh, đệ tử, dự tu, và cả cho những em nội trú trong các dòng tu, như các em nội trú tại cộng đoàn Phaolô hoặc Mến Thánh Giá trong giáo xứ Tuy Hòa.
Nhưng cũng thật chắc chắn rằng tất cả chúng ta, mọi thành phần Dân Chúa đều đọc lời Đáp ca đó, rồi còn lập đi lập lại nhiều lần lúc ấy trong thánh lễ Thứ Sáu Chúa Nhật II Phục Sinh như một xác tín : “Có một điều tôi xin Chúa, một điều tôi kiếm tìm, đó là tôi được cư ngụ trong nhà Chúa suốt đời tôi…”. Và như vậy, ước mong khẩn cầu cho “được cư ngụ trong nhà Chúa” cũng là của chúng ta nữa !

Sự thật anh chị Thân Hữu đâu còn ở trong nhà dòng, đâu còn ở trong đời tu, thế mà vẫn xin được ở trong nhà Chúa suốt đời. Vậy để ứng nghiệm Lời Chúa này, chỉ còn một cách là : biến gia đình của mình thành “nhà Chúa” để cư ngụ suốt đời. Khi ấy sẽ đọc là : “Có một điều tôi xin Chúa, một điều tôi kiếm tìm, đó là tôi được cư ngụ trong gia đình tôi suốt đời, hầu vui hưởng sự êm đềm của Chúa và chiêm ngưỡng thánh điện của Ngài”. Thật là một điều quá lớn lao, quá đỗi kinh ngạc phải không anh chị em ?

Nhưng đó là sự thật, vì gia đình là một Hội Thánh, một “Hội Thánh tại gia”. Gia đình và nhà Chúa là một !
Làm thế nào để biến gia đình mình thành một “Hội Thánh tại gia” như thế ? Thưa phải làm cho gia đình mình thành một cộng đoàn đức tin, một cộng đoàn yêu thương, một cộng đoàn sự sống, một cộng đoàn giáo dục, một cộng đoàn chứng nhân Tin Mừng (x.GLCG số 2204,2205).

Để là một cộng đoàn đức tin, gia đình anh chi Thân Hữu được kêu gọi tham dự vào việc cầu nguyện và hy sinh của Chúa Kitô. Việc đọc kinh cầu nguyện hằng ngày. đọc suy Lời Chúa hằng ngày nhất là tham dự thánh lễ thường xuyên, sẽ củng cố đức tin trong gia đình. Nếu đức tin không được nuôi dưỡng và lớn lên qua kinh nguyện và phụng vụ thường xuyên như vậy, mọi thành viên trong gia đình rốt cục sẽ èo uột và khô héo.

Để là một cộng đoàn yêu thương, không ai trong chúng ta được phép quên điều này : gia đình được thiết lập do tình yêu thương, được tồn tại nhờ tình yêu thương, được phát triển bằng tình yêu thương và được hạnh phúc sung mãn cũng nhờ tình yêu thương. Nhiều khi tình yêu đó bị thử thách. Bất hạnh và tan nát dễ thường xảy ra cho gia đình nếu không coi những thách đố này là cách để lớn lên trong tình yêu và đạt đến tình yêu gương mẫu Đức Kitô : “yêu cho đến cùng” (Ga 13,1).

Để gia đình là một cộng đoàn sự sống, chúng ta nhớ lại lời Hội Thánh : “Gia đình là một tế bào nguyên thủy của sinh hoạt xã hội, là một xã hội tự nhiên nơi mà người nam và người nữ được kêu gọi hiến thân cho nhau trong tình yêu và trong việc thông truyền sự sống. Uy quyền, sự ổn định và sinh hoạt của các mối liên hệ trong gia đình phải được coi là nền tảng của sự tự do, của ổn định, của tình huynh đệ trong xã hội. Gia đình là cộng đoàn để ngay từ tuổi thơ, người ta học được những giá trị luân lý, bắt đầu tôn thờ Chúa và sử dụng sự tự do của mình ” (GL CG số 2207). 

Nói đến gia đình là một cộng đoàn giáo dục, Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận có nói : “Chủng viện thứ nhất, đệ tử viện thứ nhất, trường học thứ nhất, chính là gia đình Công giáo” (Đường Hy Vọng). Ý ngài muốn nhắn gửi rằng tương lai của Hội Thánh và của xã hội, của quê hương tổ quốc, đều tùy thuộc vào gia đình, trong đó cha mẹ chính là thầy cô đầu tiên và mãi mãi trong gia đình. Qua các thống kê xã hội, ta thấy các gia đình trẻ đổ vỡ ngày càng gia tăng, các đôi nam nữ sống chung không hôn phối hay sống thử ngày càng nhiều, một số rơi vào tệ nạn như băng đảng, trộm cướp, nghiện ngập, cờ bạc, trụy lạc... Nguyên nhân có nhiều, nhưng nơi gia đình Công giáo chính là thiếu bầu khí đạo đức, thiếu gương sáng của bậc phụ huynh, cha mẹ chưa tích cực tự giáo dục và chăm lo giáo dục đức tin cho con cái, nhiều bạn trẻ và cha mẹ chưa ý thức tầm quan trọng của các khóa giáo lý hôn nhân…

Để gia đình là một cộng đoàn chứng nhân Tin Mừng, Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, với Đại Hội Quốc Tế Gia Đình tại Manila năm 2003, đã nêu cách thức chính yếu: hãy trung tín với ơn gọi hôn nhân gia đình, vì đó là con đường chuyên biệt để trở nên môn đệ Chúa Kitô, để đóng góp vào việc mở mang Nước Chúa và triển nở trong sự thánh thiện mà mọi Kitô hữu đều được kêu gọi. Cuộc sống gia đình hằng ngày đầy những mỏi mệt, căng thẳng và cả vấp ngã. Nhưng trong cuộc hành trình đó, chúng ta không đơn côi. Chúa Giêsu và Đức Maria luôn hiện diện bên chúng ta, như Ngài và Mẹ Ngài đã có mặt ở tiệc cưới Cana trong lúc khó khăn (x.Ga 2,1-12). Làm sao để người khác khi nhìn vào gia đình chúng ta, đều có thể đọc thấy Tin Mừng Chúa Kitô được viết trong đó.

Nếu được như vậy thì người Thân Hữu đã xem gia đình mình là nhà Chúa, đã coi nhà mình là thánh điện, và mình có thể thốt lên tận đáy lòng : “Có một điều tôi xin Chúa, một điều tôi kiếm tìm, đó là tôi được cư ngụ trong gia đình tôi suốt đời tôi, hầu vui hưởng sự êm đềm của Chúa và chiêm ngưỡng thánh điện của Ngài”. Xin cầu nguyện cho chúng tôi, để chúng tôi biết luôn trân trọng Nhà Dòng của mình cũng là Nhà Chúa để cư ngụ suốt đời hầu vui hưởng hạnh phúc trong tình yêu và dâng hiến.
Mùa Phục Sinh và Tháng Hoa đã về, mến chúc gia đình anh chị Thân Hữu là như thế.
Tuy Hòa, Phục Sinh 2017
 

BÀ CON VỚI CHÚA
 
Những ngày cuối năm thật giá buốt, còn lạnh hơn cả những ngày trong Mùa Giáng Sinh vừa qua. Trên phố người đi lại mua sắm tết rất đông và ai nấy đều mặc trang phục mùa đông để chống lại cái giá lạnh. Chẳng ai để ý đến một cô bé ăn mặc mỏng manh, nhiều chổ rách vá víu luộm thuôm, trên tay là cả một xấp vé số còn nhiều mà chẳng người mua giúp. Cô bé nài nỉ mời gọi.
 
Tôi vẫn giữ một khoảng cách với cô bé và lặng lẽ quan sát. Cô bé dừng lại thật lâu ở gian hàng bán quần áo may sẵn, miệng thì thầm một điều gì đó còn đôi mắt thì cứ dán chặt vào những bộ áo quần ấy một cách thèm thuồng. Một lúc sau tôi mới phát hiện, ngoài tôi ra còn có một người phụ nữ cũng lặng lẽ dõi nhìn cô bé. Đột nhiên người thiếu phụ bước đến trước mặt cô bé và bảo :
- Con thích bộ áo quần kia lắm phải không?
 
Cô bé ngước lên và nói:
- Dạ…Dạ mà sao bà biết ạ !
- Thì ánh mắt của con đã nói với ta điều đó rồi mà. Đúng không?
- Đúng là con rất thích bộ quần áo này nhưng con chỉ nhìn thôi chứ không có ý định mua đâu bà ạ !
- Sao vậy? Thích thì cứ hỏi mua chứ con. Con mặc bộ đồ này đi chơi tết thì đẹp lắm đây.
 
Cô bé hạ thấp giọng, bùi ngùi nói:
- Tiền đâu mà mua hả bà. Tết này nhà con cái ăn còn chưa có nói gì đến đồ mới. Từ sáng tới giờ con chỉ bán được vài tấm vé số. Ngày hôm nay không biết lấy gì để ăn đây bà ạ!
 
Người thiếu phụ nhanh nhẹn cầm lấy bộ đồ ướm lên mình con bé rồi nói:
-  Con thích bộ này phải không?
-  Dạ…dạ…nhưng mà…
-  Không nhưng nhị gì cả. Con đừng lo…
 
Người thiếu phụ nhanh chóng trả giá và mua nó. Rồi bà trao bộ đồ ấy cho cô bé :
-  Con đừng ngại gì cả. Bà mua tặng con mặc tết đó.
Cô bé ngạc nhiên lẫn xúc động nói:
-  Cháu cảm ơn bà. Mà...bà ơi ! Bà có phải là Chúa không?
-  Sao cháu nói như vậy? Bà chỉ là một người con của Người thôi.
-  Con biết ngay mà. Nếu bà không phải là Chúa thì cũng là bà con với Người. Vì Chúa đã nhậm lời con cầu xin.
Câu chuyện đã xảy ra như thế. Khi nhìn lên khuôn mặt của cô bé và cả của người phụ nữ nọ tôi đều thấy nét rạng rở và đầy ắp niềm vui. Tôi, một người lặng lẽ đứng bên dòng đời quan sát mà cũng cảm nhận được niềm vui đó và tôi rút ra cho mình một bài học. Đâu cứ gì phải làm những việc to tát mà chỉ cần sống và thực hành Lời Chúa như người thiếu phụ nọ. Chỉ bằng một việc tưởng chừng rất nhỏ, nhưng đã được gọi “ Bà con với Chúa”, đó cũng đã làm đẹp lòng Người rồi phải không ạ ?                                                                      
Cécilia Đỗ Thị Vân
 
 
 
CÁI CHỮ LATINH
 
Cái học chữ Lat đã hỏng rồi
Mười trường theo học chín trường thôi.
 
Tuy chỉ là mấy câu nhái theo thơ Trần Tế Xương, nhưng nó cũng đã phản ánh được chuyện học tiếng Latinh ở các tiểu chủng viện thuộc miền nam giữa thập niên 60. Khi ấy, mười tiểu chủng viện thì đã có tới chín trường bỏ tiếng Latinh, nếu ở đâu đó còn học, thì cũng chỉ coi nó như một môn nhiệm ý, học cho biết.
 
Từ 1963, sau khi công đồng Vatican cho phép thánh lễ được cử hành bằng tiếng bản xứ thì trong nhà thờ, người ta hết gặp cái cảnh phía trên các cha cứ Saecula saeculorum, còn phía dưới các con cứ lầm rầm Kính mừng thánh Ma… sao cho đủ ba chuổi năm mươi là hết lễ, là Ite Misa est.
 
Trước sự thay đổi ấy, nhiều giáo phận đã nhanh chóng ra quyết định bỏ tiếng Latinh. Đà Nẵng Nha Trang bỏ, Cần Thơ Long Xuyên bỏ, Mỹ Tho cũng bỏ, chỉ có Qui Nhơn là không bỏ. Quy Nhơn vẫn một lòng một dạ cùng La tinh. Từ lớp đệ lục (lớp bảy) trở lên, mỗi tuần sáu giờ lên lớp, lũ tôi vẫn nhịp nhàng « sum es est », vẫn rộn ràng “do vestem pauperi”, vẫn sang sảng “magister dixit”. Lũ tôi vẫn cắm đầu cắm cổ cày ải trên mảnh đất Latinh, cứ tựa như cả cái dòng họ bọn Roma cổ xưa nói tiếng Latinh, sắp tràn qua nước ta rồi vậy.
 
Thật đáng tiếc cho Latinh, một ngôn ngữ từng được cả cái đế quốc Roma hùng mạnh xử dụng và bộ chữ cái Latinh hiện vẫn đang được hơn 4 tỉ 900 triệu người trên thế giới dùng, trong đó có Việt Nam, lại phải trở thành một thứ tử ngữ, ngôn ngữ chết.
 
Các bài văn của Cicero, Caesar, Hanibal… có câu cú trúc trắc vòng vèo còn hơn cả đường đèo Cù Mông, thuở ấy vẫn được lũ tôi miệt mài khiêng tự điển ra mà xếp lại cho ngay hàng thẳng lối. Ôi. Nếu có ai đó bảo rằng “ phong ba bảo táp không bằng ngữ pháp tiếng Nga »  thì đó chỉ là vì họ chưa biết tiếng Lat. Đụng tới món Latinh rồi sẽ biết ngay cái gì là đá, cái gì là vàng. Tiếng Nga chỉ là võ sỉ hạng ruồi, tiếng Lat mới là võ sĩ hạng nặng, chỉ cần qua vài đường quyền, Latinh sẽ cho đối thủ biết ngay thế nào là lễ độ.
 
Còn nhớ lúc vừa mới nhận những cuốn sách giáo khoa Latinh mà dù ở lớp nào bìa cũng chỉ in mỗi một màu xanh rêu đậm, chưa kịp lật ra xem mà các đàn anh đã ân cần dặn là thằng nào muốn nắm được chữ Lat thì trước hết phải thông thạo môn la làng !
 
Chia ráo. Đó là châm ngôn của Latinh. Chẳng những động từ chia, mà cả danh từ, tính từ cũng chia luôn. Mỗi chữ phải chia đủ 12 lần. Số ít chia 6 lần, số nhiều 6 lần. Mà từng chữ lại có những kiểu chia khác nhau, thế mới chết chứ. Nội chuyện chia cho nhuyễn đã muốn sụm bạ chè. Nominatif, vocatif, genitif, accusatif, datif, ablatif. Tùy trường hợp trong câu mà ta chọn một chữ thích hợp nhất trong 12 chữ đó đem ráp vào. Mà cái trường hợp ấy thì nhiều như sao trên trời như cát dưới biển. Vậy phải làm sao. Chỉ một cách duy nhất, đó là : học. học nữa, học mãi ( Nghe nói đồng chí Y lít Lenin nhờ có thời gian theo học Latinh mà phát minh ra được câu nói hay ho này )
 
Các cha giáo cũng biết Latinh khó nên vẫn thường xuyên động viên chúng tôi bằng những lời nghe chẳng ăn nhập gì với mục đích học ngoại ngữ : Học Latinh là để tập cho mình biết suy luận chặt chẻ. Cha mẹ ơi ! Sao không nói luôn là học vẻ bánh mì sẽ luyện cho con người ta khả năng nhịn đói ! Nhưng nghĩ lại cũng đúng. Câu cú trong tiếng Latinh rất chặt chẻ, một chữ dù đứng chổ nào bất kỳ, nhưng chỉ cần nhìn vào giống, nhìn số, nhìn cas của nó là ta ( ta ở đây dùng chỉ riêng những thằng học giỏi) biết ngay nó thuộc về nơi nào. Chẳng phải ngẫu nhiên mà xưa nay các hiệp định hòa bình trên thế giới đều được soạn thảo bằng tiếng Latinh. Văn bản Latinh không có chổ cho giải thích lươn lẹo.
 
Một bằng chứng nữa chứng minh cho việc học tiếng Latinh khó, đó là dốt. Dốt cả lũ, dốt hoành tráng. Học hết cấp 3 mà mười thằng thì đã có tới tám thằng rưởi dốt tiếng Lat rồi. Trong khi đó, hai ngoại ngữ còn lại là tiếng Anh và Pháp thì nói xin lỗi chuyện gì chứ mấy cuốn truyện trinh thám, truyện đồng quê Anh Pháp tụi tôi đọc khỏe re, cầm tờ Times hay tờ Le Monde lên xem cũng chẳng đến nổi. Nhưng riêng Latinh thì xin lạy. Nghe như vịt nghe sấm. Xem như mù xem voi. Bài nào đã học rồi thì còn hiểu đôi chút, chứ gặp bài mới là chắp tay con quỳ ngay tại chổ. Khó cực kỳ. Dù tụi tôi chẳng hề làm biếng, dù tụi tôi vẫn cày sâu cuốc bẩm, thậm chí còn cày sâu hơn các môn khác. Thế mà dốt vẫn hoàn dốt. Xong 12 là chữ thầy trả thầy.
 
Giờ đây nếu một ai đó hỏi tôi là có còn nhớ gì về tiếng Latinh không thì xin thưa bụng dạ nào mà ta có thể quên nó được. Tôi vẫn còn nhớ rất rõ từng cái bìa sách in màu xanh rêu đậm mà trong suốt sáu năm trường anh em chúng tôi đã cùng nhau hì hục mài cho rosa hóa ra rosis, mài cho sắt hóa thành xà beng.
 
… Hỡi những cuốn sách có bìa in màu xanh rêu đậm, cho tới chết ta vẫn sẽ không bao giờ quên các ngươi. Nếu có quên thì chỉ là quên những thứ nằm ở phía bên trong mà thôi. 
Cát Giang
 
 
 
CÁI DUYÊN
 
Thánh Giá Chúa đã tìm đến tôi trước rồi tôi mới tìm tới Thánh Giá Chúa sau, nhưng tôi  thấy mình cũng rất có duyên với Thánh Giá của Chúa, với hội Mến Thánh Giá Tại Thế.
 
Vào năm 1967 khi đang học lớp Năm, tức lớp một bây giờ tại Trường Đồng Tiến Qui Nhơn do Soeur Phanxica phụ trách. Sr vừa hát hay lại vừa xinh đẹp. Sr luôn nhắc chúng tôi phải yêu mến Thánh Giá Chúa. Nhưng Sr cũng dữ lắm. Còn nhớ chỉ vì viết chử xấu mà một lần tôi bị Sr cho trận đòn nhớ đời, tới giờ vẫn còn thẹo ! Nhưng cũng nhờ cái thẹo đó mà chử viết tôi mới được đẹp (!) như hôm nay và lòng yêu mến Thánh Giá trong tôi mới được vững mạnh.

Theo vận nước, từ 1975 gia đình tôi phải sống qua nhiều vùng, tôi cũng buộc phải làm đủ thứ nghề để kiếm sống. Từ bán cà rem tới làm thuê làm mướn, từ anh nông dân vác cuốc tới chàng công nhân áo quần đầy dầu mở. Nhưng có một điều mà tôi luôn cám ơn cha mẹ tôi đó là ông bà luôn chọn những nơi ở gần nhà Thờ. Tôi thích ngắm cây Thánh Giá trên nóc nhà thờ lắm. Vì làm đủ loại nghề, gặp đủ hạng người và thường xuyên thay đổi môi trường sống nên tôi như mất phương hướng, đời sống đức tin trở nên nguội lạnh.
 
Tháng 02/1985 khi đang làm công nhân và vẫn còn độc thân, một lần tôi về thăm Hộ Diêm nơi có nhà Thủy, vợ của tôi đang sống. Tại đây tình cờ tôi gặp lại Sr Phanxica đang được Sr Cúc Hoa đưa về để chữa mắt. Gặp lại cô giáo cũ tôi rất mừng vì … đã có thêm lý do để thăm Hộ Diệm. Cùng nhau ôn lại chuyện xưa Đồng Tiến, hai Sr động viên nhắc nhở tôi phải sống xứng là con cái Chúa. Lòng yêu mến Thánh Giá lại hồi sinh giúp tôi định hướng lại cuộc đời một KiTô hữu.
 
Rồi tôi lập gia đình. Tới năm 1997 chuyển về sống tại giáo xứ Tuy Hòa và sinh hoạt như một giáo dân bình thường. Tháng 03 năm 2016 anh Nhu vào Tuy hòa và gọi điện báo : “ Phú ! Em tham gia Hội Mến Thánh Giá Tại Thế nghe” Tôi nói với anh là tôi chẵng biết gì về MTG TT cả.  Anh nói “ Em chỉ cần có lòng yêu mến Thánh Giá thôi, còn mọi việc Chúa sẽ lo liệu …”  và thế là tôi gia nhập Hội.
 
Ngày 08/01/2017 tôi được bước vào giai đoạn Chuyên biệt để tìm  hiểu kỹ hơn về Thập Giá và được sống trong linh đạo MTG.
 
Từ những cái duyên đã qua như duyên Đồng Tiến, duyên Hộ Diêm và bây giờ là duyên Tuy Hòa, tôi mới “ngộ” ra là mình rất có duyên với Thập giá nên có bổn phận phải đáp trả. Mà đã nói về chuyện duyên phận số kiếp thì nếu ai gặp duyên mà không đáp trả thì Duyên kia sẽ biến thành Nghiệp nọ, rồi một ngày Nghiệp nọ sẽ hóa ra Nghiệp Báo kia… Mà tôi thì vốn xưa nay vẫn sợ nghiệp báo lắm. Thôi thì phải rán mà chu toàn bổn phận đối với Thập Giá Chúa vậy.
 
Mong sao từ đây tôi sẽ được đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển của hội MTG TT trên cánh đồng Truyền Giáo của Giáo Phận Qui Nhơn
 
Phanxico Assisi Bùi Ngọc Phú
 
 

 
 
   
CHÚT KỶ NIỆM XƯA

Tôi vào tiểu chủng viện Qui Nhơn năm 1969. Hết lớp 7 thì bị cho về. Tuy chỉ theo học có 2 niên khóa nhưng đời tu cũng đã để lại nhiều dấu ấn khó quên. Nhất là trong hai năm này đã diễn ra một số sự kiện lớn.
 
Khi chúng tôi nhập học, tiểu chủng viện mới còn đang xây dựng ở giai đoạn cuối và chúng tôi phải ở dãy nhà tạm nằm dài theo con đường từ cổng dẫn vào bên trong. Dãy nhà cất dã chiến kiểu như doanh trại quân đội. Cuối dãy nhà là nhà nguyện. Tháp chuông nằm bên hông nhà nguyện. Cuối 69 đầu 70, chủng viện mới xây dựng xong, đẹp đẽ, bề thế. Các chú vui mừng khiêng giường vác vali lên ở nhà lầu. Nhà nguyện nằm ở tầng cao nhất. Hồi đó tôi cứ tưởng chỉ niên khóa của mình mới ở dãy nhà tạm, sau hỏi lại được biết các chú phải ở trong dãy nhà này từ khóa 1966, lúc ở Làng Sông về, có nghĩa là các chú từ khóa 1966 trở đi chưa được vinh dự tu học ở chủng viện mẹ Làng Sông.
 
Tháng 9 năm 1969, trong một thánh lễ thường, cha chủ tế báo cho chúng tôi biết ông Hồ Chí Minh ở miền Bắc đã mất, và ngài nói thêm đại ý là ta có thể hy vọng về một nền hòa bình sắp sửa đến gần, sẽ không còn ai chết nữa... Cũng trong khoảng thời gian này, các văn kiện của công đồng Vaticano II được thực hiện ở Việt Nam mà thay đổi rõ ràng nhất là ở việc đổi tiếng La tinh ra tiếng Việt trong cử hành thánh lễ và vị trí linh mục ở bàn thờ là quay xuống thay vì quay lên như trước đó. Lúc này chúng tôi đã thuộc làu làu các câu thưa đáp bằng tiếng La tinh nên khi chuyển sang tiếng Việt cũng có phần luyến tiếc. Nhưng đôi khi ở các bàn thờ riêng có cha vẫn dùng tiếng La tinh và chúng tôi cũng vậy.
 
Sau này về sinh hoạt ở giáo xứ Vĩnh Phước, tôi tham gia vào đội giúp lễ. Cha sở lúc đó là linh mục Trần Bá Phiên (dòng Phan xi cô). Đi theo sự đổi mới của công đồng, ngài cho thay chuông giúp lễ bằng một cái chuông to gõ bằng cây, giống y chang chuông trong chùa của Phật giáo. Mấy lần đầu tiên, quì gõ mấy tiếng boong boong... boong, tôi phải cố gắng nhịn cười vì nghe lạ quá. Dù sao tôi vẫn thích tiếng chuông giúp lễ cũ hơn. Bốn con lắc va vào 4 trái chuông nhỏ tạo nên âm thanh reeng reeng vui tai và đầy hoan hỉ. Ngài cũng thay việc xông hương với bình xông hương lúc lắc xung quanh bàn thờ bằng một cái lư hương to tướng nằm yên trước bàn thờ. Đến nghi thức xông hương, tôi và thằng bạn giúp lễ cùng cha chủ tế bước lên bậc tam cấp. Thằng bạn mở nắp lư hương, tôi mở nắp hộp trầm hương nhỏ cầm trên tay, cha chủ lễ lấy cái muỗng nhỏ múc hai ba muỗng bỏ vào cái lư đã có sẵn mấy cục than trong đó. Một làn hương trầm thơm ngát bay lên và chú giúp đậy nắp lư hương lại...
 
Thật ra công đồng Vaticano II đã thay đổi khá nhiều việc nhưng chúng tôi không hiểu hết. Sau này lớn lên rồi tìm hiểu thêm trong các tài liệu mới biết Công đồng được khai mạc vào ngày 11 tháng 10 năm 1962 bởi Giáo hoàng Gioan XXIII và kết thúc vào ngày 8 tháng 12 năm 1965 bởi Giáo hòang Phaolô VI. Trong hơn 3 năm đó Công đồng đã ra 16 văn kiện. Xin được phép trích dẫn ra đây vì thiết nghĩ điều này khá cần thiết:
 
1) Sacrosanctum Concilium, Constitution on the Sacred Liturgy, Hiến chế về Phụng vụ Thánh, ban hành ngày 4 tháng 12 năm 1963, đề cập đến các nguyên tắc canh tân phụng vụ làm nền tảng cho nhiều cải tổ phụng vụ sẽ được thể hiện sau Công đồng.
 
2) Lumen Gentium, Dogmatic Constitution on the Church, Hiến chế Tín lý về Giáo hội, ban hành ngày 4 tháng 12 năm 1963, đề xướng một sự hiểu biết về Giáo hội với các đặc tính: Giáo hội là một mầu nhiệm, có tính cách hoàn vũ, chia sẻ thẩm quyền, chú ý đến giáo dân, và cần canh tân và tái cải tổ.
 
3) Inter Mirifica, Decree on the means of social Communication, Sắc lệnh về các phương tiện truyền thông xã hội, ban hành ngày 4 tháng 12 năm 1963, thảo luận về sự quan trọng của truyền thông đối với sự tiến bộ liên tục của nhân loại và sự góp phần của người Công giáo nếu có thể.
 
4) Orientalium Ecclesiarum, Decree on the Catholic Churches of the Easterm Rite, Sắc lệnh vềcác Giáo hội Công giáo Đông phương, ban hành ngày 21 thắng 11 năm 1964, ca ngợi di sản phụng vụ và thần học của các giáo hội này, tuy ở Đông phương nhưng vẫn giữ sự hiệp thông với Rôma.
 
5) Unitatis Redintegration, Decree on Ecumenism, Sắc lệnh về Hiệp nhất, ban hành ngày 21 tháng 11 năm 1964, Giáo hội Công giáo thú nhận lỗi lầm từ mọi phía vì những tranh chấp gây nên sự chia cắt trongKitô giáo; tìm cách đối thoại và hợp nhất với "những anh em đã chia lìa".
 
6) Christus Dominus, Decree Concerning the Pastor Office of Bishops in the Church, Sắc lệnh về nhiệm vụ mục vụ của các Giám mục trong Giáo hội, ban hành ngày28 tháng 10 năm 1965, xác định thẩm quyền và nhiệm vụ của các Giám mục trong giáo phận của các ngài, trong cuộc họp cấp miền, và trong giáo hội nói chung.
 
7) Perfectae Caritatis, Decree on Renewal of Religious Life, Sắc lệnh về canh tân thích nghi đời sống dòng tu, ban hành ngày 28 tháng 10 năm 1965, kêu gọi canh tân trong cơ cấu tổ chức và quy luật, nhưng coi yếu tố then chốt để canh tân là thể hiện các lời khấn khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục.
 
8) Optatam Totius, Decree on Priestly Training, Sắc lệnh về đào tạo Linh mục, ban hành ngày 28 tháng 10 năm 1965, kêu gọi việc huấn luyện các linh mục một cách nghiêm chỉnh, kể cả việc chú trọng đến các tiêu chuẩn cao trong việc học, đời sống tâm linh và huấn luyện mục vụ.
 
9) Gravissimum Educationis, Declaration on Christian Education, Tuyên ngôn về giáo dục Kitô giáo, ban hành ngày 28 tháng 10 năm 1965, xác nhận sự quan trọng của việc giáo dục Kitô hữu ở nhà, ở trường, và ở nhà thờ và kêu gọi việc cập nhật hóa các phương pháp giáo dục để phù hợp với các ngành khoa học xã hội.
 
10) Nostra Aetate, Declaration on the Relation of the Church to Non-Christian Religious, Tuyên ngôn về Liên lạc của Giáo hội với các tôn giáo ngoài Kitô giáo, ban hành ngày 28 tháng 10 năm 1965, kêu gọi thái độ cởi mở và cộng tác với các tôn giáo lớn trên thế giới.
 
11) Dei Verbum, Dogmatic Constitution on Divene Revelation, Hiến chế Tín lý về Mạc khải của Thiên Chúa, ban hành ngày 18 tháng 11 năm 1965, xác định phương cách dùng Kinh Thánh và Truyền thống như các bày tỏ chính yếu của mặc khải Kitô giáo; điểm đáng chú ý là việc chấp nhận các phương pháp hiện đại trong việc khảo cứu Kinh Thánh và trong thần học.
 
12) Apostolicam Actuositatem, Decree on the Apostolate of the Laity, Sắc lệnh về Tông đồ giáo dân, được ban hành ngày 18 tháng 11 năm 1965, khuyến khích giáo dân sống đạo và loan truyền Phúc âm trong gia đình, nơi sở làm, và hoạt động xã hội.
 
13) Dignitatis Humanae, Declaration on Religious Freedom, Tuyên ngôn về Tự do tôn giáo, được ban hành ngày 7 tháng 12 năm 1965, cho rằng phẩm giá căn bản của loài người đòi hỏi sự tự do không bị ép buộc về vấn đề tôn giáo. Mọi người phải được tự do thờ phượng theo lương tâm của mình.
 
14) Ad Gentes, Decree on the Missionary Activity of the Church, Sắc lệnh về Hoạt động truyền giáo của Giáo hội, ban hành ngày 7 tháng 12 năm 1965, nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc truyền giáo bên ngoài Giáo hội, nhất là qua việc hình thành các cộng đoàn ở giáo hội địa phương.
 
15) Presbyterorum Ordinis, Decree on the Ministry and life of Priests, Sắc lệnh về Thừa tác vụ và Đời sống linh mục, được ban hành ngày 7 tháng 12 năm 1965, làm sáng tỏ nhiệm vụ của linh mục và sự tương giao giữa linh mục với Giám mục và giáo dân.
 
16) Gaudium et Spes, Pastoral Constitution on the Church in the modern World, Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay, được ban hành ngày 7 tháng 12 năm 1965, đưa ra hình ảnh của Giáo hội như để phục vụ thế giới; đặc biệt trình bày về lập trường của Giáo hội đối với vấn đề gia đình, văn hóa, kinh tế, chính trị, và hòa bình.
xxx                          
 
Tuy tôi tu học chỉ có 2 năm mà đã xảy ra 2 trận cháy nhà ! Trước cổng tiểu chủng viện là một khu gia cư có tên là Khu 2 mà nhà cửa đầy tạm bợ, phần lớn được dựng bằng tôn và gỗ để cho dân tị nạn chiến tranh ở vùng quê về tránh đạn. Một hôm ngọn lửa đã thiêu trụi nơi này. Trận cháy khác xảy ra tại tu viện Mến thánh giá Qui Nhơn nằm cách trường tụi tôi chỉ vài dãy nhà. Trận cháy không lớn nhưng cũng làm tốn khá nhiều thau xô của các chú bên Tiểu chủng viện. Có chú chữa cháy xong chạy về bên này mặt vẫn còn lem luốc lọ...
Lớp tôi ngày đó bây giờ tản mát khắp nơi, ai cũng phải trải qua không biết bao nhiêu là gian khổ. May mắn và đáng mừng là đã có 10 người được Chúa chọn lên làm linh mục. Mười linh mục cho một lớp là một con số đáng hãnh diện. Tôi cũng hãnh diện nhưng cũng lo, vì con đường mục vụ của các bạn tôi chẳng hề dễ dàng và suôn sẽ, kể cả người đang sống bên này hay ở ngoại quốc.
 
Tinh thần Công đồng Vaticano II vẫn còn nguyên giá trị. Mới năm ngoái tôi về thăm con bạn cùng lớp trước bảy lăm ở Nha Trang. Nó người bên lương. Chuyện trò có nhắc tới 2 bạn gái khác cũng ở bên Vĩnh Phước. Nó nói hồi đó mỗi lần nhà tui có đám giỗ tui đều nhắc bà già để dành cho tui một dĩa bánh không cúng, để riêng cho 2 đứa nó qua ăn, tui nói với bà già tụi nó có đạo nên không ăn đồ cúng...
 
Tôi cũng thấy vui vui… và bây giờ đã là thế kỷ XXI.
 
Dom Hải
 

 
CHUYỆN CỦA TÈO
 
Sau khi thất thủ Ban Mê Thuột ngày 10 tháng 3, hàng đoàn người tháo chạy tán loạn về phía đồng bằng. Tỉnh lộ 7 (QL 25 ngày nay) được chọn làm con đường di tản. Đã có nhiều tài liệu mô tả về cuộc tháo chạy này, tưởng không cần nói thêm. Ở đây chỉ nói chuyện thằng Tèo.
 
Đoàn di tản về tới dốc cây Me thì rẻ phải, đi ngang qua giáo xứ Tịnh Sơn để về quận lỵ Sơn Hòa với ước mong tìm một sự che chở. Rồi quận lỵ cũng tháo chạy, đoàn người tản đi về hai phía, một băng xuống Thạnh Hội theo cầu phao đi qua đường 5, một tiếp tục đi theo đường 7, tất cả đều tuyệt vọng... Theo những gì được biết thì ngày 24/3, “quân giải phóng” đã hoàn toàn làm chủ quận lỵ nên bây giờ 24/3 là ngày kỷ niệm của địa phương này.
 
(Quận lỵ Củng Sơn nằm chơ vơ phía tây Phú Yên. Ở đây có giáo xứ Tịnh Sơn lâu đời nằm cách khoảng 2 km. Năm 1963, vì tình hình an ninh, nhà thờ Tịnh Sơn đóng cửa, một nhà nguyện nhỏ được xây dựng tại Củng Sơn ngay trung tâm quận lỵ, có lẽ để nương náu vì trong lịch sử, thời chín năm kháng chiến, Phú Yên đã có 2 linh mục bị sát hại: Cha Dẫn ở Trà Kê và Cha Tôn ở Tịnh Sơn)
 
Bây giờ ngồi hình dung lại thì thật là bi đát. Dài dòng chỉ thêm niềm uất nghẹn. Chỉ có Tèo là vô tư vì lúc đó nó tuy cũng có mặt nhưng với tư cách là một sinh linh bị bỏ lại bên cạnh bờ sông Con ở Ngân Điền. Mấy người nông dân địa phương đi lượm đồ rơi rớt của người di tản đã bắt gặp Tèo, chưa cắt rún, nằm quấn trong cái khăn lông trắng muốt của Mỹ. Mọi người bàn tán thằng này chắc con của nhà giàu... Tèo được đưa về quận lỵ Củng Sơn (lúc đó) giao cho linh mục Pheâroâ Tuaàn Nguyễn Cao Hiên, cha sở nhà thờ. Cha Hiên đón nhận Tèo, cắt rún, ấp ủ và nuôi như những gì ngài có thể.
 
Cũng trong những ngày này, vợ chồng anh Mười Hòa mừng đón đứa con đầu lòng. Nhà thương chưa hoạt động lại nên phải nhờ bà mụ vườn. Bà mụ cắt rún bằng cái cật tre, bốn ngày sau thằng bé chết vì uốn ván, lưng cong vòng. Chôn cất con xong vợ chồng anh Mười nhớ tới cha Hiên và thằng bé sơ sinh èo ọt. Hai người đạp xe tới nhà thờ xin đón thằng nhỏ về. Cha Hiên mừng, nói đã rửa tội, có tên thánh, và dặn vợ chồng anh Mười đem về nhớ làm khai sanh cho nó.
 
Và Tèo đã lớn lên, vượt qua cái xanh xao còm cõi nhờ vào bầu vú sữa của chị Mười, không cần nhớ gì về quá vãng, cội nguồn. Cái làng quê nó sống thì tôi có biết, cũng buồn bả như bao làng quê VN khác sau ngày hòa bình. Có lần tôi tới chơi thấy nó lon ton chạy quanh sân, lần khác nó đã lớn hơn, cầm roi chận bò ngoài ruộng. Ngày đó tôi còn trẻ, chẳng quan tâm để ý gì nhiều. Thêm nữa vợ chồng anh Mười Hòa sinh thêm một đàn con, lo miếng ăn khá vất vả rảnh đâu nghĩ chuyện tinh thần.

Cũng như nhiều đứa trẻ con khác chỗ nó sống, ngày đó đói khổ quá nên đi học cũng lôm côm được chăng hay chớ. Tôi cũng vất vả mưu sinh nên cũng thiếu sót, ít khi nghĩ tới người khác. Chỉ biết lúc này qua đàm tiếu của thiên hạ thằng Tèo đã biết nó là con nuôi, là đứa rớt rơi trong ngày di tản. Nó gặng hỏi, anh Mười nói cứ từ từ lớn rồi đi tìm. Và từ đó trong Tèo có một nỗi niềm đau đáu...
 
Miết cho tới cách đây vài năm, chương trình “Như chưa hề có cuộc chia ly” của cô Thu Uyên rộ lên trên truyền hình, thằng Tèo ghi tên rất sớm. Cũng nhiêu khê lắm cuối cùng đoàn làm phim về Tịnh Sơn gặp Tèo, mô tả, kể lại, nhắn nhủ v.v... Và ngày tháng trôi đi Tèo không nhận được chút phản hồi nào. Cũng dịp này cậu bạn cùng cảnh ngộ bên phía Đức Bình đã được đoàn tụ. Còn Tèo thì chờ miết nhưng không có tin tức gì dù dữ kiện của Tèo khá rõ ràng và rành mạch. Bà con làng xóm nói thôi, chắc ba má mày không qua nỗi sông Con rồi. Mà có qua được sông Con cũng chưa chắc về tới được Tuy Hòa...
….
Mười Hòa là anh họ của tôi. Năm nay 30/4 trúng ngày chủ nhật, tôi chạy xe Honda từ Tuy Hòa về Tịnh Sơn 50 cây số, ý là để hỏi thăm thằng Tèo. Vợ chồng anh Mười đã đi từ sớm lên An Khê thăm thằng trai út đi bộ đội, đơn vị đang đóng ở đó. Lâu quá không gặp nên thằng trai lớn của anh Mười không biết tôi. Tôi chỉ hỏi sơ qua chút đỉnh, biết sau khi đưa thằng Tèo về nuôi thì sau đó anh Mười sinh thêm 6 đứa con nữa. Thằng Tèo cũng đã lấy vợ và đưa vợ con về Gia Lai sống mấy năm nay. Tôi nghĩ chắc thằng này muốn tìm về nguồn cội, dù chỉ là cái nguồn cội mù mờ. Có khi nó chỉ cần hít thở bầu không khí mà nó nghĩ trước đây ba má nó đã hít thở, đi lòng vòng cái không gian mà trước đây ba má nó đã đi, rồi tưởng tượng ra có người đàn ông nào đó, người đàn bà nào đó là ba và má nó. Nghĩ vậy thôi để bớt tủi buồn... Tính hỏi tên khai sanh của thằng Tèo nhưng nghĩ lại không cần. Chắc chắn là cái tên nào đó theo họ của anh Mười thôi, gọi theo tên ở nhà có khi lại hay hơn. Tèo đã chẳng có tên từ khi bị đẻ rớt ở bờ sông Con ngày đó...
 
30/4, đài phát thanh truyền hình rôm rả vui mừng, loa kèn inh ỏi. Tôi đứng bên bờ sông Con nghĩ tới thằng Tèo.
Dom Hải
 

 
CÓ LẦN SANG BỞ NÀO MÀ CHÚA CHẲNG RỦ RÊ!
 
Tôi được mời tham dự thánh lễ tạ ơn của một cặp đôi kỷ niệm 25 năm hôn phối, có lẽ họ muốn nhớ lại thời điểm ban đầu khi mới thành hôn, họ không tổ chức  thánh lễ ngoài giờ  nhưng vẫn cứ giờ đó, giờ chờ mặt trời ló rạng đó,tôi thấy bạn bè không nhiều lắm nhưng gia đình chính họ đông hơn cách đây 25 năm nhờ tình yêu gia đình với ba cô con gái cùng chị em của cô dâu, phía chàng rể tôi không nhận ra ai , có thể vì anh trước kia là một thanh niên trong một gia đình phật tử thuần thành.
 
Hôm nay anh vận bộ vest mầu cà phê sữa như muốn nói với bạn đời của mình rằng: Cà phê đắng nhưng anh đã nghiện, ngọt ngào như sữa đặc có đường đấy em! Phải đấy, không nói ra để mọi người hiểu nhưng thấy chị dẫu không voan, không hoa tươi, không áo cưới như ngày đó nhưng chị nói gì đó với anh khi thánh lễ gần xong rồi mỉm cười hạnh phúc…Xin lỗi Chúa, tôi lo ra  nhiều quá…
 
Nhìn anh chị cùng các con và người thân quỳ hàng ghế đầu tôi liên tưởng đến hình ảnh Chúa Giê su  nói với các môn đồ “chúng ta sang bờ bên kia đi” (Mc 4/35)
 
Và rồi :  “ một trận cuồng phong nổi lên, sóng ập vào thuyền, đến nỗi thuyền đầy nước”.(Mc 4/37) nghe rằng, ngày đó với anh là như thế, theo Chúa là qua bờ bên kia , ngày ngày đối diện với bão táp phong ba, cuối cùng anh gặp được chị vì ngày đó anh được  thầy xứ nay là Giám Mục  chỉ cho biết tình Chúa bao la dường nào, Ngài có thể làm cho “gió tắt, biển lặng” (Mc4/39)…Khi cộng đoàn vổ tay chúc mừng, tôi thấy chỉ riêng anh cúi đầu thật sâu cảm ơn mọi người và nhìn thấy trong anh lời tạ ơn Chúa còn sâu hơn nữa.
 
Chúc mừng anh chị 25 hôn phối vẫn luôn son sắc và hôm nay chỉ mới phần tư, phần ba chặng đường, sẽ còn  nhiều lần  Chúa dắt gia đình anh chị sang những bờ bên kia khác trong tương lai, hy vọng anh chị biết bám lấy Chúa  để gia đình anh chị luôn bình an.
 
Khi anh chị tận hưởng lời chúc lành của Chúa thì ở một gia đình khác cũng trong ngày này,một người thân trong gia đình  khác đó vừa bước sang bờ bên kia sau 90 năm  vui buồn trần thế với không biết bao nhiêu lần sang bờ đầy thách thức…mang cả gia đình sang bờ Bến Hải để được giữ đạo, sang bờ thời gian 1963, 1975, và lần cuối cùng này sang bờ bên kia là Nước Trời vĩnh hằng.
 
Bờ hồ bên kia đang chờ Chúa là một gã đàn ông bị thần ô uế ám được Chúa chữa lành (Mc 5/1-19)còn bờ bên kia của cụ ông  là bàn tay dang rộng của Chúa để ôm ông vào lòng vì một đời trung thành trong đức tin , dịu dàng trong đức ái, chưa thấy một lần lớn tiếng với ai. Không gần gủi với trường lớp, chẳng phải có kiến thức  hơn người nhưng cụ đủ tấm lòng hướng dẫn được  đàn con đông đúc  nên  người và nên con cái Chúa.
 
Có ai trong chúng ta không một lần sang bờ bên kia,và lần sang bờ nào mà Chúa chẳng rủ rê . Bờ bên kia của mỗi chúng ta có thể là đồng khô cỏ cháy hay đất hứa phì nhiêu chẳng phải  là điều may rủi nhưng lại tùy vào khả năng thích ứng của mỗi  người, một thứ khả năng Thiên Chúa ban cho mọi người không phân biệt hoàn cảnh. Thiên Chúa đóng cửa này  thì Ngài mở cửa khác  vì với Ngài ai cũng được cứu rỗi.
 
Bờ bên kia của anh em cựu chủng sinh, tu sĩ không là nữ tu, không là tu sĩ, không là linh mục,,,nhưng là gia đình với tất cả những đặc tính phức tạp của nó , với những xao xuyến thường hằng, với những lo toan không ngơi nghỉ và cũng với ơn Chúa mỗi ngày.
 
Nếu anh chị mừng ngân khánh gia đình trên kia biết hát lời tạ ơn ; nếu cụ ông 90 tuổi đang hát  lời tạ ơn đặc biệt cho lần sang bờ sau hết thì chúng ta, Cựu chủng sinh tu sĩ Phú yên chẳng những hát mà còn hát hay lời tạ ơn mỗi ngày vì chúng ta được yêu thương nhiều đó sao ! và như thế, như người thanh niên bị thần ô uế ám kia, chúng ta “ra đi và bắt đầu  rao truyền trong miền Thập Tỉnh tất cả những gì Đức Giê su đã làm” (Mc 5/20) cho mỗi chúng ta. Rao truyền về Đức Ki tô là quà tặng vô giá cho ngày khai mạc Năm Thánh Giáo Phận mừng 400 đón nhận Tin Mừng  phải không quý vị.?
Trần Tuy hòa. 
 
 
 
 
 
ĐỔI MÀU
 
… Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn … Màu hoa phượng thắm như máu con tim …
 
Nhắc tới mùa hè là ta nghĩ ngay tới hoa phượng và hễ nói tới mùa hoa phượng ai cũng biết đó là mùa hè. Trong ký ức lẫn trong ngôn ngữ, hè và phượng là một.
 
Trong các loài hoa, chỉ loài hoa phượng được dùng để đại diện cho mùa, các loài hoa khác thì không. Vì dù cho xuân luôn đi với mai nhưng không ai nói “mùa hoa mai” để gọi xuân cũng như không dùng sen để chỉ riêng hạ hay dùng cúc để thay cho thu vàng.
 
Phượng vĩ thì khác. Nó đại diện cho cả mùa hè. Trọn một mùa hè với nắng cháy, với những cánh đồng xa tít tắp, với tiếng sóng biển rì rào… Hè cũng là mùa nghỉ của học sinh. Mùa rợp trời hoa phượng đỏ.
 
Ngày xưa phượng vỹ nhiều lắm. Đi đâu cũng gặp. Chẳng những trong sân trường mà còn trên khắp mọi nẻo đường phố xá. Thuở ấy, phượng đỏ là màu thống soái không gian. Đi cùng với sắc đỏ của phượng là âm thanh của ve. Ve sầu kêu ve ve. Suốt mùa hè. Khắp nơi âm vang tiếng ve…
 
Ngày nay cả màu sắc lẫn âm thanh của mùa hè đã thay đổi. Màu đỏ phượng tuy vẫn còn đó nhưng nó đã bị lấn át bởi màu vàng của hoàng yến. Đâu đâu ta cũng gặp cái màu vàng rực rỡ  ấy. Nhiều hơn sắc đỏ, vàng đã trở thành màu thống soái không gian mất rồi. Hè đã đổi màu.
Và âm thanh của mùa hè cũng mất, ve không còn râm ran nữa. Trong thành phố này, ve sầu đã tuyệt chủng. Vậy có âm thanh nào thay thế cho tiếng ve không ? Có. Đó là tiếng gầm rú của xe.
 
Nhạc sầu của ve mất khiến nhạc lòng ta cũng sầu theo.
Mỗi hè về, ta vẫn muốn được sầu một chút cùng ve và bâng khuâng một chút cùng phượng vỹ.
 
Sa Giang
 
 
 
ĐỐI THOẠI
 
Mấy hôm nay nước ta nóng lên chuyện tranh chấp đất đai ở xã Đồng Tâm huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội. Tranh chấp lớn đến nỗi người dân nơi đây đã dám bắt nhốt hơn 38 cán bộ lẫn công an khi họ đến giải tỏa. Vụ Đồng Tâm đã khắc họa những mâu thuẫn lâu nay giữa chính quyền và người dân về một trong những quyền cơ bản của con người đó là quyền sở hữu đất đai. Tức nước thì phải vỡ bờ nhưng vụ này đã có thể không xảy ra nếu công an và quân đội không cưỡng chế đất của dân một cách không minh bạch. Phải chi bấy lâu nay chính quyền biết lắng nghe ý kiến của dân và ông chủ tịch TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung biết đến gặp gỡ và đối thoại với dân sớm hơn. Đối thoại thay vì đối đầu, biết giải quyết mâu thuẫn thông qua đàm phán thay vì bạo lực.
 
Rồi tình hinh quốc tế cũng đang căng thẳng. Tại bán đảo Triều Tiên, bất chấp lệnh trừng phạt quốc tế cùng với những nghị quyết lên án của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, Triều Tiên vẫn liên tục cho thử bom hạt nhân cũng như nghiên cứu nhằm chế tạo ra loại hỏa tiễn tầm xa có khả năng vươn tới Mỹ.
 
Tháng Tư, Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ ra lệnh cho Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương phải lên kế hoạch đối phó với Triều Tiên, chuẩn bị cho khả năng Tổng Thống Donald Trump ra lệnh tấn công. Rồi sau khi ông Trump bất ngờ ra lệnh tấn công Syria bằng tên lửa Tomahawk, cụm tàu sân bay chiến đấu USS Carl Vinson cũng trực chỉ đất Triều Tiên mà tiến. Người ta đồn rằng ban lãnh đạo Triều Tiên và các sơ sở hạt nhân của nước này sẽ là mục tiêu tiếp theo của tên lửa Mỹ. Nhưng cho tới giờ phút này, cũng may cuộc chiến tranh đó chưa xảy ra. Người ta đã ghi nhận nhiều cuộc điện đàm giữa hai nhà lãnh đạo hai cường quốc thế giới là Tổng Thống Mỹ Donald Trump và chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, người có ảnh hưởng lớn tới chủ tịch Kim Jong Un. Vẫn phải nhờ tới đối thoại, nhưng liệu thế giới có kiên nhẫn được mãi với các chương trình vũ khí hạt nhân của Bình Nhưỡng hay không khi mà nhà lành đạo Triều Tiên Kim Jong Un vẫn chưa cho thấy một dấu hiệu hạ nhiệt nào để đối thoại !
 
Chúng ta còn nhớ câu chuyện “khủng hoảng tên lửa Cuba” vào năm 1962, khi Kennedy đang làm Tổng Thống Hoa Kỳ. Đây là vụ đối đầu quan trọng nhất giữa Mỹ và Liên Xô thời chiến tranh lạnh và cũng là vụ xung đột có thể đưa nhân loại tới chiến tranh hạt nhân, tới thế chiến thứ ba nhất. Lúc đó ngoài mặt cả Xô Viết lẫn Hoa Kỳ đều tỏ ra không nhân nhượng trước những đòi hỏi của nhau, nhưng trong các cuộc tiếp xúc bí mật sau hậu trường họ đã chấp nhận một giải pháp cho cuộc khủng hoảng và thế là cũng nhờ đối thoại mà con người đã tháo dỡ được ngòi nổ hạt nhân và thế chiến.
 
Mới đây tôi được nghe một câu chuyện có thật. Một anh bạn (nhân vật chính của câu chuyện) kể lại: “Trong một chuyến công tác cùng đi trên máy bay, ngồi gần một vị khách nam (sau này mới biết đó là một Giám Mục) vị này chủ động gợi chuyện hỏi thăm anh ta rất niềm nở, nên anh ta đã trải lòng từ chuyện vui đến chuyện buồn, từ chuyện gia đình đến xã hội và cũng nhận được nhiều lời chân tình khiến anh có cảm giác như cha đang tâm sự với con mình. Và phần thưởng lớn nhất mà anh đã nhận được qua cuộc đối thoại ngắn ngủi đó chính là việc anh được ơn Chúa đã trở lại đạo công giáo và hiện giờ là một tín hữu rất ngoan đạo.
 
Nhưng đối thoại là gì? Ngay từ xa xưa, đối thoại đã được sử dụng để truyền đạt một sứ điệp, một chân lý. Rất nhiều kinh sách của các tôn giáo là những cuộc đối thoại giữa Thượng Đế với các Thiên Sứ, Ngôn Sứ. Ngày nay đối thoại đã trở thành biểu hiện tích cực của mọi con người, mọi thành phần, mọi thời đại.
 
Đối thoại là ngỏ lời, là nói với và nói cùng người  khác. Điều đó không có nghĩa là nói bằng bất cứ kiểu nào nhưng là nói trong tinh thần liên kết với tha nhân. Nói để thể hiện tình bằng hữu, để cảm thông, để hiểu biết và cùng nhau xây dựng tình liên đới.
 
Tuy nhiên, ngôn ngữ cũng có những giới hạn của nó, làm sao để hiểu được nhau mới là điều quan trọng. Sự thất bại trong đối thoại, chính là muốn nắn đúc người khác theo quan niệm và khuôn khổ của mình. Ai càng phù hợp với khuôn khổ của mình thì càng tốt. Ai càng ít phù hợp thì càng xấu. Ai càng giống mình thì càng hay. Ai càng khác mình thì càng dở. Nhận thức chủ quan này đã dẫn ta từ sai lầm này đến sai lầm khác và là mầm mống của những kiêu căng, thống trị, độc tài.
 
Trong thần thoại Hy Lạp có câu chuyện chiếc giường Procuste : ai nằm vừa vặn với chiếc giường thì Procuste thả cho đi. Ai dài hơn anh ta chặt bớt. Ai ngắn quá anh ta kéo ra cho bằng chiếc giường. Đó là một tai họa vẫn thường xảy ra trong lịch sử nhân loại khi người bắt người phải rập khuôn theo ý mình. Không những trong lĩnh vực xã hội chính trị, giáo dục mà còn cả trong lĩnh vực tôn giáo giữa các cộng đoàn tu trì!
 
Như vậy, những ai có tấm lòng chân thành, có tinh thần cởi mở và cầu tiến đều ưa chuộng đối thoại. Đối thoại như nhịp cầu nối liền giữa những nỗi niềm, khúc mắc, ưu tư, nguyện vọng… là tiếng nói của trái tim gởi đến trái tim “Cor ad cor loquitur”. Chính từ đó, mọi hiểu lầm, nghi kỵ chống báng, hận thù, chia rẻ được tẩy xóa để làm nên một tương quan mới và chỉ lúc đó hòa bình, an vui mới xuất hiện trong tinh thần đối thoại.
 
Chính trong chiều hướng đó mà ngày 5-2-1986 Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo II chia sẻ với những vị lãnh đạo các tôn giáo ngoài Kito tại Madras Ấn Độ như sau : “Qua đối thoại chúng ta để cho Thiên Chúa hiện diện giữa chúng ta, vì chúng ta mở lòng ra đối thoại với nhau thế nào thì chúng ta cũng mở lòng ra với Thiên Chúa như vậy”.
 
Mùa phục sinh 2017
Dom. Long

 
 
GIUĐA ĐANG Ở ĐÂU?
 
Có một Giu đa lịch sử và một Giu đa thực tế.
 
Một Giu đa phản Thầy bán Chúa của lịch sử 2000 năm trước. Lúc này ông đã đến nơi ông ta phải đến. Hỏa ngục hay thiên đàng. Không ai biết được. Điều ấy tùy thuộc quyền năng Chúa và cũng chỉ mình Ngài biết.
 
Con người không là thiên thần cũng không là ác quỷ. Nhưng là cả hai cộng lại.
 
Nếu phản bội có đặc điễm như Vinci đã cảm nhận và mô tả : Hám lợi, lừa lọc, đạo đức giả và cực kỳ thâm độc thì một Giu đa của thực tế khi nơi nầy, khi nơi nọ không ít lần đã và đang ở ngay trong tôi. Lúc tôi sa ngã phạm tội. Khi tôi làm tổn thương đau đớn, vì : Sự gì ngưoi làm cho kẻ bé mọn nhất là ngươi làm cho chính ta. Chúa đã bảo thế.
 
Nói tóm lại, con người Giu đa là hình ảnh của mỗi chúng ta, hình ảnh của bất toàn mong manh, hạn chế phận người.
 
Phê rô và Giu đa cùng được kêu gọi làm tông đồ, cùng được tham dự tiệc thánh của Chúa, cùng phạm tội phản bội Thầy mình. Nhưng Phê rô thì biết trông cậy và trở về còn Giu đa thì tuyệt vọng tự vẫn.
Vậy điều đáng suy nghĩ ở đây là việc cứu rỗi không chỉ do Thiên Chúa chủ động nhưng rất cần có sự cộng tác của con người. Thánh Augustino đã mượn ý này để nói như sau :
 
Để tạo dựng con Ta không cần con, Nhưng dể cứu độ con. Ta cần con cộng tác.
 
Muôn đời sau và qua từng phút giây, Giu đa đã trở nên bài học sinh dộng và thật cần thiết cho mỗi chúng ta trong đời sống đạo của mình.
 
Tôma Hà Sanh.
 
 
 
LINH MỤC DÁNG DẤP NÔNG DÂN

Tôi muốn viết về người anh Linh Mục như là một gợi nhớ về anh, nhân tròn 20 năm ngày Chúa gọi anh về (1997-2017).
Anh ba Bích, anh bình thường như bao nhiêu người bình thường khác. Trong bài tiến lên, ba bích còn gọi là ba bệnh, đứng ở vị trí thấp nhất.
Anh nhận chức Linh Mục tại TCV Qui Nhơn vào đúng mùa hè đỏ lửa năm 1972, lúc ấy Qui Nhơn tháo chạy vì chiến tranh ập đến. Một lễ phong chức không có tiệc mừng, chúc tụng, quà cáp….Trong năm ấy anh nhận bài sai về làm phó xứ Quảng Ngãi quê hương của mẹ. Tuổi đời còn rất trẻ vừa tròn 28 tuổi, tuổi sôi động, hăng say, cộng với sự hỗ trợ của gia đình, anh mua ngay 2 chiếc xe, một chiếc xe con, một chiếc xe jeep, trong phòng 2 dàn máy akai và sony, không hổ danh LM đại gia…

Sau biến cố 1975. Tất cả trở về số không và rơi tự do xuống tận cùng số phận. Cùng năm ấy anh nhận bài sai của Giám mục về làm cha sở Đồng Tre. Đồng Tre lúc ấy khô cằn, dân chúng nghèo khổ vì ảnh hưởng cuả chiến tranh, lòng hận thù, đố kị nhau vẫn còn nóng bỏng…

“Anh em hãy ra đi, này Thầy sai anh em đi như chiên con đi giữa bầy sói’’(Lc 10,3)  Đầu tiên anh về La Hai , nhưng sau đó về định cư tại Suối Ré, trong căn nhà nghèo khổ như những người nghèo khổ trong thôn, căn phòng vừa làm phòng khách vừa phòng ngủ, chỉ có chiếc giường tre và võng gai, khi đến thăm anh, đêm cần đi vệ sinh, hỏi anh, anh bảo: “ Nhất quận công nhì… thôi đứng thì cũng được, cười…’’ Những năm đầu anh sống trong hoang mang, nghi ngại, lo sợ bất an. Lúc nào trong nhà cũng sẵn chiếc ba lô và ít vật dụng cá nhân để chờ người ta mời lên đường…Hàng đêm nghe tiếng chó sủa dập dồn là không sao chợp mắt. Vượt qua cái thưở ban đầu gay cấn  ấy, anh quyết định từng bước hội nhập vào cuộc sống bình dị như người nông dân thực thụ, anh mua cặp bò, sắm cày tập cày ruộng, cày đất thổ…bắt đầu trồng lúa, trồng mía, mì. Tới mùa mía làm che mía ép lấy đường... mọi công việc quen dần. Anh trở thành nông dân thực thụ đến nỗi anh trở thành xã viên tiên tiến của thôn Phước lộc, Xuân Quang 3. Có lần đến  thăm anh, hỏi anh sao làm chi nhiều cho khổ vậy, anh bảo: Làm để có dư giúp đỡ những đứa con cái nheo nhóc không  đủ nuôi… cũng tập cho bọn trẻ biết làm việc để nuôi gia đình. Mùa nước thả lưới. Anh nổi tiếng sát cá, đi lưới về thế nào cũng cả đụt cá. Mùa khô rảnh rỗi đi rừng săn thú …một thời gian, ông nông dân với roi bò trên tay cùng cặp bò rong ruổi mọi nẽo đường Đồng Xuân ai cũng biết, cũng thân quen ông Cha Bích. Anh có biệt tài thuộc tên từng người, từng gia đình lương cũng như giáo…Xuống Tuy Hòa tĩnh tâm hàng tháng thế nào cũng xin cho đươc thuốc chữa bệnh, mắm cái mắm nước về cho bổn đạo và những người nghèo khổ khác. Dần dần kiêm luôn thầy thuốc chữa bệnh. Khi Đa Lộc trở thành kinh tế mới, anh giả ông buôn heo, rọ heo trên xe đạp. Có khi làm ông buôn bò thường xuyên thăm nom, ban  các bí tích cần kíp…Ngày anh có chiếc xe (liên hợp quốc) ai bệnh nặng cần chuyển Chí Thạnh có Cha Bích. Nghe nói có lần chở cả bà bầu đi đẻ ban đêm…Chính cái bình dân chân chất của anh đã làm ông Phóng một cán bộ tập kết ở Tuy Hòa thay đổi cái nhìn về Linh Mục và theo đạo. Ông Phóng có vợ có đạo ngoài Bắc nhưng ông không theo đạo và có cái nhìn không thiện cảm với các linh mục. Một lần ông về Phước Lộc thăm một người quen đang làm bí thư ở đó, tình cờ gặp cha Bích, mời về nhà ngủ một đêm. Sau cái đêm định mệnh ấy, ông đã chấp nhận theo đạo và hợp thức hóa với vợ sống rối lâu nay. Câu chuyện nghe được các chị Legio thăm ông Phóng kể lại….

Không có ngôn từ nào tả cho hết những khó khăn gian khổ mà Cha Bích đã chấp nhận suốt 17 năm đời Linh Mục ở Đồng tre. Hồi ấy ai về thăm Cha Bích đều phải chuẩn bị đồ đạc, lương thực như đi thăm nuôi một người tù nào đó vì lúc ấy Cha chỉ có tấm lòng còn thiếu thốn đủ thứ. Một lần nói chuyện Cha JB Võ Tá Chân Cha Sở Đa Lộc hiện nay luôn đề cao tinh thần giáo dân giáo họ Suối Ré, ôn hòa chân chất, tình cảm, luôn nhắc về cha Bích như  những kỷ niệm đẹp không thể nào quên….

Câu chuyện sau đây để kết thúc tâm tình cho anh. Ngày ấy từ cao nguyên về thăm anh. Tới Suối Ré người ta bảo anh đang dâng lễ ở Đồng Tre. Tôi vội thuê xe về Đồng tre cho kịp lễ. Hôm ấy là Chúa Nhật, vào cuối thánh lễ thì anh xỉu ngay trên bàn thờ. Các ông biện vội đưa anh vào nhà xứ. Tôi cũng vội chạy vào. Lúc ấy họ đang xoa dầu cạo gió, song tôi nghe anh bảo: Đứa nào có cơm nguội cho tao một tô. Nghe thế người anh của Cha Triều đem lại một tô cơm nguôi có con cá nục kho mặn. Anh ngồi dậy ăn hết tô cơm nguội và lại bắt đầu “pháo” bình thường. Tôi miên man suy nghĩ đời Linh Mục của anh đơn giản như tô cơm nguội, cũng nhờ những tô cơm nguội cùng những sự đùm bọc che chở,yêu thương của Đồng Tre, Suối ré, Đa lộc mà anh trụ được trên mảnh đất gian khổ một thời mà Giáo Hội trao phó. Các  linh Mục nối tiếp anh mang màu xanh hy vọng tới. Các nhà thờ mới mọc lên giữa Đồng tre, Suốí ré, Đa lộc mang bộ mặt mới của lòng người và của Thần Khí đó anh….. 
Phục sinh 2017
Phương Hạc        
 
 
 
NĂM CUỐI
 
Sau khi vượt qua kỳ thi trắc nghiệm tại giáo xứ Hội Đức, tôi được nhận vào lớp 6 Tiểu Chủng Viện Làng Sông niên khóa 1964. Khi ấy tôi vừa 11 tuổi, mới học xong lớp 5 trường tiểu học Hoài Hảo. Cái tuổi chưa đủ khôn, chưa đủ lớn.
 
Từ giã Hội Đức, từ giã cha xứ là Linh Mục Trịnh Hoài Ân người có biệt tài: “Câu hòn chì” để đoán những việc đã xảy ra, tôi được ba mình dẫn đi nhập học.
 
Từ xa nhìn thấy TCV Làng Sông hiện ra thật đồ sộ, thật hùng vĩ. Từ cổng vào là hai hàng cây sao cao vút, với hai dãy nhà lầu to lớn nằm hai bên đối xứng, ở giữa là ngôi nguyện đường đầy nét cổ kính.
 
Sau khi gặp cha Nguyễn Thanh Bình, Giám Đốc Tiểu chủng viện để bàn giao đứa con, cha tôi ra về. Nhìn bóng dáng cha quay đi mà lòng tôi buồn rười rượi. Lần đầu tiên đi học xa nhà ở một nơi xa lạ với biết bao lạ lẫm, lòng tôi đầy bỡ ngỡ. Thế là tôi đã trở thành Các Chú (ở TCV là Các Chú, lên Đại Chủng Viện là Các Thầy).
 
Có thể nói chương trình học của Các Chú ở Tiểu Chủng Viện cũng gần giống với chương trình học của các học sinh trung học ngoài đời thời bấy giờ. Chỉ khác là ngoài học văn hóa còn có thêm các sinh hoạt tôn giáo: Giờ lễ - Giờ chầu – Giờ suy niệm – Giờ viếng Chúa… Đây là một chương trình giáo dục con người toàn diện nhằm đào tạo cho Các Chú cả về trí thức, thể chất và tâm linh. Tôi luôn luôn tự hào và cảm thấy may mắn là mình đã được đào tạo tại lò TCV Làng Sông.
 
Nhưng năm 1964 cũng là năm tình hình chiến sự bắt đầu sôi động, chiến tranh lan rộng. Sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ (ngày 1-11-1963), các vùng quê bắt đầu mất an ninh. Ban ngày sống với chế độ Cộng hòa miền Nam, đêm về thì các chú du kích, bộ đội giải phóng xuất hiện. TCV Làng Sông cũng rơi vào tình hình như vậy. Có lần mới sáng sớm, chúng tôi đã thấy các chú bộ đội đi thành hàng trên con đường làng trước cổng TCV. Không thể để cho mối lo lắng về an ninh kéo dài ảnh hưởng tới công  việc chung, trước mùa hè năm 1964 Đức Giám Mục giáo phận (Đức Cố Giám Mục Đa Minh Hoàng Văn Đoàn) cùng với ban Giám Đốc TCV đã quyết định dời TCV Làng Sông lên Thành phố Quy Nhơn. Từ đây tên TCV Làng Sông được đổi thành TCV Quy Nhơn.

Thế là vì tình hình chiến sự mà năm tôi vào Làng Sông cũng chính là năm cuối cùng Các Chú còn được học tại TCV Làng Sông.
   
Đến năm 1968 khi Đức Cố Giám Mục Phao Lô Huỳnh Đông Các vừa du học từ Hoa Kỳ về làm Giám Đốc TCV, ngài đã cho xây dựng lại TCV Quy Nhơn, gồm hai khối nhà 4 tầng khang trang đẹp đẽ nằm giữa nhà thờ chánh tòa và tòa giám mục Quy Nhơn như ngày hôm nay.
 
Sau bảy năm làm Các Chú, tôi tốt nghiệp Tú Tài Bán năm 1970, Tú Tài Toàn năm 1971 (bắt đầu năm 1973 thì bỏ thi Tú Tài Một và chỉ còn giữ lại kỳ thi Tú Tài Hai – tương đương bằng tốt nghiệp cấp ba bây giờ).
 
Đầu năm học 1971 anh em lớp tôi được Đức Giám Mục gởi ra học tại ĐCV Xuân Bích Huế. Chương trình đào tạo tại ĐCV Xuân Bích Huế lúc ấy gồm ba năm triết học và bốn năm thần học. Nhưng năm chúng tôi ra ĐCV Huế cũng là năm cuối cùng ban triết học còn học tại đây. Bắt đầu năm sau, tức từ niên khóa 1972-1973, ban triết được dời vào ĐCV Hòa Bình Đà Nẵng. Như vậy lớp chúng tôi là lớp cuối cùng học ba năm triết học tại Huế. Lại một cái năm cuối nữa !
 
Đây cũng là thời kỳ mà cuộc chiến Nam Bắc trở nên khốc liệt (tác phẩm Mùa hè đỏ lửa của Phan Nhật Nam đã mô tả được phần nào thời kỳ khốc liệt ấy). Tháng 3-1972, quân đội giải phóng miền Bắc ồ ạt tấn công vào Quảng Trị và chiếm được địa danh này. Hè năm đó, trước nguy cơ chiến tranh, ban Giám Đốc ĐCV Xuân Bích Huế đã phải cho các Thầy nghỉ hè về lại gia đình sớm.
 
Học mãn ba năm triết tại ĐCV Huế, tôi được Bề Trên gọi về thực tập tại TCV Quy Nhơn niên khóa 1974-1975. Ai đâu ngờ đâu đây cũng là năm cuối cùng của chương trình đào tạo Các Chú tại các TCV trên toàn miền Nam !
 
Cùng đi thực tập TCV năm ấy, còn có thầy Nguyễn Văn Khôi, hiện là Đức Giám Mục giáo phận Quy Nhơn, thầy Trương Đình Hiền, hiện là Cha Tổng Đại Diện giáo phận Quy Nhơn, thầy Nguyễn Văn Hải (có biệt danh là “Hải Tiến Sỹ”) hiện nay là tiến sỹ Hải đang định cư ở Úc, thầy Nguyễn Thanh Huân hiện cũng đang định cư ở Úc và thầy Phạm Xuân Điềm hiện là anh nông dân thứ thiệt tại ấp Bình Tân xã Xuân Phú, Xuân Lộc.
 
Sau biến cố năm 1975, một số Thầy (lớp lớn) được tập trung về ĐCV Quy Hải (trường trung học Vi Nhân cũ, nguyên là trường trung học La San bàn giao lại cho giáo phận Quy Nhơn) do Cha Nguyễn Soạn làm Giám Đốc – hiện giờ ngài là Đức Giám Mục Phê rô Nguyễn Soạn và đã nghỉ hưu.
 
Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, năm 1978, cơ sở này đã bị tịch thu để làm khu nhà ở cho tập thể giáo viên trường đại học Quy Nhơn. Từ đó một số Thầy phải về tập trung tại TCV Quy Nhơn. Một số khác được Bề Trên gởi đi giúp xứ. Một số khác tìm cách ra nước ngoài để theo đuổi con đường tu trì và được thụ phong Linh Mục nơi xứ người. Còn một số khác nữa thì không tiếp tục ơn gọi mà xuất ra lập gia đình, trong đó có tôi.
 
Giờ đây nhìn lại quãng thời gian dài mười bốn năm được ở trong nhà Chúa với biết bao cảm xúc khó tả, trong đó có cái cảm xúc đặc biệt của một kẻ chuyên lọt vào Năm Cuối, tôi chỉ còn biết cảm tạ ơn Chúa về những hồng ân và sự quan phòng mà Ngài đã ban cho tôi trong suốt thời gian qua với hai tiếng xin vâng: FIAT MIHI !
 
Chắc chắn rồi ai trong chúng ta cũng sẽ có một năm cuối cùng trong cuộc đời mình, cái năm mà không ai biết sẽ đến vào lúc nào. “Cho nên Anh Em cũng vậy, Anh Em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút Anh Em không ngờ thì Con Người sẽ đến” (Mtt 24-44).
 
Mùa Phục Sinh năm 201
Dom. Long
 
 


 
 
TẢN MẠN JUDAS
 
Nguyên nhân nào đã khiến Judas, từ một môn đệ thân tín trở thành tên phản bội, cam tâm bán đứng Thầy mình cho quân dữ. Chẳng ai biết. Suốt 20 thế kỷ nay, đó là một bí mật mà ngoài Chúa Jesus ra, trên đời này chỉ có mỗi mình Judas biết, nhưng y thì đã xuống tuyền đài nằm từ lâu rồi. Vì thế lời đáp cho vụ phản bội nổi tiếng nhất trong lịch sử nhân loại này sẽ mãi mãi còn là một bí mật không lời giải.
 
Bốn phúc âm, nguồn tư liệu duy nhất có thể giúp ta truy tìm động cơ phản bội đã đề cập đến chuyện này quá ít. Nhìn đi nhìn lại, đó chỉ là vài dòng về 30 đồng bạc mà quân dữ đã đưa cho Yudas để trả tiền công chỉ điểm, cùng với một lời giải thích mang đầy tính con nhà đạo : Quỷ đã nhập vào linh hồn hắn” ( Luc 22,2) . 
 
Quỷ nào đã nhập ? Quỷ hám danh hay quỷ hám tiền ? Quỷ hận thù ganh ghét hay là thứ quỷ quỷ quyệt nằm vùng ? Rất nhiều câu trả lời đã được đưa ra.
 
Có người bảo nguyên nhân phản bội của Yudas là do hắn đã theo Chúa với hy vọng Ngài sẽ dành độc lập cho dân tộc Do Thái, nhưng khi hiểu ra Chúa không làm chính trị, vỡ mộng hắn phản bội. 
 
Có kẻ lại nói ý tưởng phản bội thành hình trong con người Yudas từ lúc y thấy người phụ nữ đập vỡ bình dầu cam tùng có giá tới 300 đồng để lau chân cho Chúa. Theo hắn đó là một hành động phung phí, thế mà lại bị Chúa phê bình ( Yn 12, 5-8) . Vừa bất mãn, vừa nghĩ Thầy mình đã đổi thay, không còn thương yêu người nghèo nên hắn mới bán Ngài với giá 30 đồng, tức chỉ bằng một phần mười giá bình dầu kia cho bỏ tức !?
 
Lại có người nói do Yudas nghĩ rằng Chúa sẽ thực hiện một cuộc cách mạng giải phóng các tầng lớp bị trị. Cợm áo cho dân nghèo, ruộng đất cho người cày. Nhưng rốt cuộc Ngài lại nói “ ai có thì cho thêm”  rồi còn dặn phải đóng thuế cho chính quyền. Như vậy chẳng khác nào Ngài cổ xúy cho bọn áp bức. Bất mãn hắn phản thùng.
 
Nhưng cũng có kẻ theo thuyết âm mưu thì lại quả quyết chỉ vì Yudas tin rằng khi bị bắt, thế nào Chúa cũng sẽ dùng quyền phép thoát khỏi kẻ thù. Ngài sẽ tự phá bỏ xiềng xích và đi lại giữa chúng như đi trong chốn không người. Phép lạ cả thể ấy sẽ làm lung lay nền móng tập đoàn áp bức, tạo phản ứng thúc đẩy dân chúng nổi dậy đánh đuổi ngoại bang. Thế nên hắn mới thử bán Thầy mình để trước hết là kiếm nhanh 30 đồng bỏ túi.
 
Có người lại bảo do Yudas đánh mùi thấy tình hình chung quanh đang rất ư là tình hình ! Các thầy thượng tế chạy đàng nào mà chẳng bắt Chúa trong nay mai, nếu cứ ở trong nhóm 12 thế nào cũng bị vạ lây. Sợ hãi, hắn vội bán Thầy chạy tội.
 
Còn nhiều lời giải thích khác cho hành động phản bội của Yudas, nhưng tựu chung lại, đó cũng chỉ là những giả thuyết của các nhà thần học, của các nhà chú giải kinh thánh, còn với đại đa số chúng ta, thì chuyện Yudas bán Chúa rõ ràng là do lòng tham 30 đồng bạc mà ra. Kinh thánh đã chép vậy mà.
 
Tham tiền ư ? Có thật tội ác này xảy ra chỉ vì ba chục đồng không ? Ở đây người viết chỉ xin lạm bàn đôi ba dòng, đúng sai không dám nói, vì tất cả cũng chỉ là chút tản mạn giữa lúc “trà thiếu rượu không” của một kẻ xưa nay vốn vẫn thuộc về nhóm “đại đa số”. 
Muốn biết nguyên nhân hành động của bất kỳ ai đó thì ta nên tìm hiểu về con người đó. Yudas là một người như thế nào ?
 
Trước hết, Yudas là một môn đệ thuộc nhóm 12 thân tín của Chúa. Trong phúc âm, bản sơ yếu lý lịch của ông được ghi lại rất sơ sài, nó chỉ cho biết rằng ông ta là con của Simon Iscariot. Cái tên Simon với dân Do Thái cũng giống như tên Hùng tên Dũng trong tiếng Việt, rất phổ biến nên chẳng nói lên điều gì. Nhưng cái tên Iscariot thì khác, nó cho ta biết xuất xứ người mang nó.
 
Kerioth là một địa danh nằm ở miền nam nước Do Thái, thuộc xứ Giuđêa và là đất của chi tộc Yudas. Khi nghe mấy cái tên như Tư Cầu Ông Lãnh hay Dũng Đa Kao, ta liền biết ngay rằng anh Tư, anh Dũng kia là dân Saigon chính gốc, thì cái tên Yudas Iscariot này cũng vậy, nó nói cho ta biết rằng cái ông Yudas ấy là dân Kerioth, xứ Giuđêa ( Yôs 15, 25). Với người Do Thái, cách gọi tên theo quê quán này rất phổ biến. như Chúa Jesus vẫn được dân chúng gọi là Jesus Nadaret (Jn 18,5) và bà Maria Madalena có nghĩa là bà Maria ở thành Magdala…
 
Như vậy Yudas là người miền nam duy nhất trong nhóm 12, vì các môn đệ còn lại đều là dân gốc bắc, đều đến từ miền Galilê, quê hương Chúa Jesus (Cv 2, 7) . Một tay miền nam ăn nói trọ trẹ sống giữa một đám toàn dân bắc kỳ nòi ! Đáng ngạc nhiên đấy chứ.
 
Kinh thánh còn cho biết, trước khi theo Chúa, nhiều môn đệ đã từng quen biết nhau, thậm chí có người còn là anh em ruột, anh em con chú con bác, như thế, theo tình cảm tự nhiên, những đồng hương ấy sẽ gần gủi với Chúa và gắn kết với nhau hơn. Mọi sinh hoạt giữa họ đương nhiên cũng sẽ rất thoải mái. Người nhà mà. 
 
Lạc lỏng chăng là một mình Yudas, một tay nam kỳ, chẳng những khác giọng nói mà cả cách làm cách nghĩ cũng khác. Tuy vậy, không những Chúa đã chọn Yudas mà còn đặt ông làm “cán bộ”.  Phê rô thủ lĩnh, Yudas thủ quỷ. Đương nhiên Yudas phải có khả năng thì Chúa mới giao cho y túi tiền, cũng như y phải xứng đáng thì mới được Ngài chọn làm môn đệ.
 
Chúa không chọn các môn đệ cách ngẫu nhiên, gặp ai chọn nấy mà chỉ những kẻ hội đủ điều kiện. Điều kiện đầu tiên mà một môn đệ Chúa cần có, chắc chắn kẻ ấy phải là một người có tấm lòng chân thành, bụng dạ không giả dối. Ngài từng dặn đi dặn lại : Phải tránh xa và coi chừng men bọn giả hình (Lc 12,1 & Mt 16,6 ). Phải tránh xa bọn “ bên ngoài thì sơn phết hào nhoáng còn bên trong toàn giòi bọ thối tha”. Dường như chính sự giả hình mới là điều Chúa kỵ nhất trên đời này. Như vậy làm sao Ngài có thể chấp nhận cho một tên giả hình đứng trong hàng ngũ của mình được. Biết lòng nó độc thì lánh xa nó, kinh xưa đã từng nói vậy.
 
Bốn phúc âm dù ít ỏi, cũng đã cho ta thấy một con người Yudas tuy cực đoan nhưng lại rất chân thành trong những ý nghĩ của mình. Ông không phải hạng người giả dối như thiên hạ thường gán ghép. Gặp chuyện không phải là ông lên tiếng ngay, không im lặng để rồi lầm bầm sau lưng. Khi thấy người phụ nữ đập vỡ bình dầu thơm giá 300 đồng để lau chân Chúa, nhiều môn đệ cảm thấy khó chịu vì cho đó là điều phung phí nhưng họ cũng chỉ lầm bầm, riêng một mình Yudas lên tiếng.
 
Lúc thay lòng đổi dạ, Yudas không núp lùm ném đá giấu tay. Giữa bữa tiệc ly, khi Chúa bảo kẻ phản bội chính là người mà Ngài sắp chấm miếng bánh trao cho thì ông vẫn đưa tay ra nhận miếng bánh ấy. Tới khi Chúa bảo ông hãy đi làm chuyện đang chuẩn bị làm, tức là phản bội thì ông đã bình tĩnh đứng dậy rời khỏi bàn tiệc không ồn ào cũng chẳng điệu bộ.
 
Sau đó, khi dẫn đoàn quân dữ tới bắt Chúa thì chẳng cần đeo mặt nạ, chẳng cần đứng đàng xa ra hiệu, ông đàng hoàng tới sát bên và ôm hôn Ngài để báo cho quân dữ biết rằng chính người này là Jesus Nazaret, dù ông dư biết với hành động ấy ông đã tự đặt mình thành kẻ thù của cả 11 tông đồ. Những hành động quyết liệt như thế không phải là cách cư xử của một kẻ giả hình, một tên hèn nhát. Cho dẫu trong các ghi chép của cả ba phúc âm, ta đều thấy tên của Yudas luôn được đặt ở cuối bản danh sách, nhưng cách xếp hạng này chỉ là do sự phản bội sau này mà ra, còn từ đầu ông ta vẫn được mọi anh em trong nhóm 12 tôn trọng.
 
Ta cũng biết, trước khi chọn môn đệ, Chúa đã cầu nguyện suốt đêm (Lc 6, 12-16) nên đương nhiên giữa bao người theo mình, Ngài không thể chọn ra một kẻ xấu. Chúa không lầm khi chọn Yudas dù hắn sẽ là tên phản bội.
 
Thiên Chúa cho hắn tự do, tự do theo Ngài cũng như tự do không theo. Hoàn toàn tự do. Nhưng Ngài đã không chọn Yudas để hắn quay mặt phản bội mà là để hắn nên thánh. Mười một tông đồ kia đều đã nên thánh. Họ theo Chúa và chọn Chúa một cách dứt khoát. Còn Yudas hắn cũng theo Ngài nhưng cái mà hắn chọn lại chính là con người hắn, là cái vũ trụ trong tâm hồn hắn.
 
Một người đi theo Chúa suốt ba năm ròng, hằng ngày nghe lời Chúa dạy , thấy những gương sáng, thấy tấm lòng nhân ái yêu thương cũng như thấy bao phép lạ Ngài làm mà rốt cuộc lại trở thành một kẻ xấu. Tại sao vậy. Mãi mãi đó là một bí mật. Chúa phải chịu chết để hoàn thành công trình cứu chuộc, nhưng tại sao đó lại là Yudas. Mãi mãi cũng là một bí mật.
 
Phải chăng là do tư tưởng vô thần đã chiếm lĩnh tâm hồn Yudas. Tò mò lẫn ngạc nhiên trước các phép lạ Chúa làm nhưng Yudas không tin những phép lạ đó là do quyền năng siêu nhiên mà hắn cho rằng đó chỉ là những hiện tượng tự nhiên mà con người chưa thể giải thích.
Ai tìm sẽ thấy ai gõ sẽ mở. Muốn tìm hiểu cho biết Chúa là ai nên Yudas mới xin làm môn đệ. Nhưng thực ra Yudas chỉ đi tìm cái mà ông đang giữ chặt trong lòng. đó chính là niềm tin vào vật chất, vào khoa học. Ông là một nhà khoa học thực nghiệm duy vật, chỉ tin những gì đang diễn ra trước mắt, tin cái đang có. Mọi con đường để Chúa bước vào tâm hồn ông đều đã bị bịt kín. Hành động ném tiền vào thánh điện cũng là một biểu hiện cho sự báng bổ thần thánh có sẵn ở trong người ông.
 
Trong nhóm 12, người mà Yudas có thể nói chuyện chắc sẽ là ông Tôma, một mẫu người “thấy mới tin”. Nhưng Yudas còn hơn thế, phải cắt nghĩa được cái mình thấy thì ông mới tin.
 
Khi Chúa nói “ Các ngươi đừng cứng lòng. Phúc cho ai không thấy mà tin” chắc hẳn Yudas đã tự nhủ “ Lòng tin thật sự phải là một lòng tin cứng lòng. Không thấy mà tin là phản khoa học. Cái có trước hết phải là cái thực.” Yudas chính là đối tượng mà Chúa bảo “ Dẫu cho kẻ chết sống lại nó cũng chẳng tin” ( Luc 16,31).
 
Do đó, Yudas đã đẩy Ngài vào bàn tay quân dữ với hy vọng trong cái tuyệt lộ ấy sẽ có câu trả lời để giúp hắn biết rằng Chúa có thật là Thiên Chúa hay chỉ là một nhà ma thuật. Nếu Ngài thật là Chúa, Ngài phải tự cứu mình…
Nhưng Chúa là con chiên xuống trần chịu hiến tế để cứu nhân loài, Ngài im lặng chịu xén lông (Is 53,7), im lặng chịu đòn roi sĩ nhục, im lặng chịu đóng đinh, chịu chết vì loài người.
 
Những điều này nằm ngoài dự kiến, nằm ngoài suy nghĩ của một Yudas vô thần. Nhìn Thầy im lặng đi tới cái chết, tâm hồn chai đá của y như tan ra. “Tôi chỉ là một tên giết người”. Trong cơn tuyệt vọng, chắc hẳn ông ta đã tự nhủ như thế và ông như nghe thấy tiếng Chúa : Yudas đừng tuyệt vọng. đừng để mình chết trong gông cùm tư tưởng. Bao năm theo Ta, con đã biết rằng không có một tội nào là không thể tha thứ. Ta chết chính là để cứu chuộc con.
Và Yudas đã đáp : Vô ích. Vô ích. Nếu Ông thật là Thiên Chúa thì tôi đã sinh ra, đã sống, và đã hành động chỉ là để phục vụ cho cái chết của Ông. Nhưng đó là định mệnh và tôi chấp nhận nó trong nổi tuyệt vọng khôn xiết.
 
Và rồi với sợi dây thòng lọng tròng vào cổ, ông ta đã chứng tỏ rằng, cho dù có chết, ông ta cũng không chịu thua Thiên Chúa ! Nhưng còn Thiên Chúa, Ngài có chịu thua ông hay không. Đây lại là một chuyện khác. Một bí mật khác.
 
Một cái nhìn về Yudas như thế, có thể cắt nghĩa được sự lựa chọn của Chúa, sự phản trắc cùng với cái chết của Yudas hay không, chẳng ai dám chắc, vì thực ra đó cũng chỉ là một giả thuyết và … chỉ có 30 đồng mới là thực.
Nhưng có thực chỉ vì tham tiền mà Yudas bán Chúa hay không ? Một số người sẵn sàng trả lời ngay và luôn là không. Vì sao ? Đơn giản là nếu chỉ vì tham 30 đồng thì chẳng phải là hắn ta đã đạt được mục đích rồi sao. Các thượng tế đã giao đủ 30 đồng không thiếu một cắc. Tiền trong tay, y phải vui mừng và xử dụng nó chứ không phải là đi tìm cành cây mà treo cổ.
 
Hơn nữa, 30 đồng là một cái giá quá bèo cho sinh mạng một con người đầy uy tín như Chúa Jesus. Chúa không lầm khi giao cho Yudas chức thủ quỷ, nếu tham tiền thì với cái tài đánh mùi tiền bạc, hắn sẽ biết cái thời giá “sinh mạng chính trị” của Thầy mình lớn tới cỡ nào. Tham tiền thì không bao giờ hắn chịu bán Thầy với cái giá đó !
 
Chẳng phải Chúa vừa tiến vào Yerusalem trong “cờ hoa” rực rỡ với lũ lượt dân chúng tung hô. Một buổi thuyết giảng bình thường của Ngài mà đã có hơn 5000 người lặn lội tìm tới tận hóc núi để nghe. Một nhân vật đầy hấp dẫn, nếu muốn có thể làm lung lay cả chế độ thì ba mươi chứ ba chục ngàn vẫn không là gì.
 
Hơn nữa, ba mươi đồng bạc kia sẽ chẳng đáng là bao nếu ta đem so với số tiền quỷ nhóm 12 mà Yudas đang nắm giữ. Đây là một suy đoán hợp lý. Cộng đoàn của Chúa được rất nhiều người yêu mến, do đó số tiền khách thập phương ủng hộ phải rất lớn.
 
Ta hãy xem ngay một bình dầu giá 300 đồng mà họ chả tiếc, một bữa tiệc cho 12 người mà trong chốc lát họ cũng dọn lên đầy đủ, đến ngay một ngôi mộ đá mới làm, nằm ở một vị trí đắc địa sát cổng thành mà họ vẫn sẵn sàng dâng cúng để liệm xác Chúa… Thế thì tại sao lúc đi tự tử, móc trong túi ra, Yudas chỉ còn có đúng 30 đồng để ném vào đền thánh. Tiền quỷ còn lại nằm ở đâu ? Nếu cho rằng Yudas đã ăn cắp thì chắc chắn y đã đem gởi cho một ai đó cất dùm rồi, và nếu vậy thì người ấy đã đem xác y về chôn cất tử tế. Nhưng không một nhân vật nào như thế xuất hiện. Vì sao ? Tại vì trong thực tế chẳng hề có một nhận vật nào như thế. Ta có thể kết luận rằng Yudas không là kẻ tham tiền, không là một tên ăn cắp, vì thế cuối cùng các thượng tế đã phải dùng chính 30 đồng bạc y ném vào đền thờ mà lo việc mai táng cho y.
 
Vậy cái túi tiền của nhóm 12, cái túi tiền lúc nào bàn tay Yudas cũng khư khư nắm chặt như trong bức tranh “Bửa tiệc cuối cùng” mà danh họa Vinci mô tả, cái túi tiền đã trở thành logo, thành “thương hiệu bản quyền” Yudas nằm ở đâu ? Xin thưa là nó đã được Yudas bỏ lại bên bàn tiệc thánh rồi. Ông ta đã ra đi với hai bàn tay không. Của Caesar trả Caesar. Ba mươi đồng ném vào đền thờ là tất cả số tiền ông có.
 
Yudas đã không bán Chúa vì tham tiền vậy Yudas bán Chúa vì cái gì ? Mãi mãi là một bí mật.
 
Nhưng không phải đột nhiên mà ông ta trở thành một tên phản bội, cũng không phải ngày một ngày hai mà ông ta nhảy lầu. Yudas đã bước tới cái hố thẳm đời mình một cách từ từ, mỗi ngày bước một bước.
 
Ông bước tới hố thẳm bằng sự thất vọng khi cố gắng cắt nghĩa cho được một Thiên Chúa đang hiện diện bằng những lý lẽ duy vật. Ông bước tới hố thẳm bằng những thói xấu như bỏ túi riêng vài ba đồng để mua dăm chén rượu nồng uống cho đỡ nhạt miệng. Ông bước tới hố thẳm bằng sự xa lánh cộng đoàn, coi anh em nhóm 12 là lũ khờ dại, cuồng tín và ông ta đã bước tới hố thẳm bằng một tấm lòng chai đá nhất quyết không tin vào Thầy chí thánh.
 
Đón nhận nụ hôn Yudas, người mà tình thương Chúa đành phải chịu thua, đầy đau đớn Ngài nói với hắn : Này bạn thân yêu ơi ! Bạn hôn Ta để nộp Ta ư ?
 
Nhưng niềm đau của Ngài chỉ lên tới tột đỉnh khi từ trên cây thập tự, đưa mắt nhìn về phía xa xa nơi có khu vườn người thợ gốm và thấy xác người môn đệ thân yêu đang treo lũng lẵng trên cành cây. Trước cảnh tượng này, Ngài đã phải thốt lên trong nổi cô đơn cùng cực :
-- Cha ơi ! Sao Cha nở bỏ Con …
 
Cát Giang
 
 
 
Tre tàn măng mọc
 
Sao lại có măng có tre ở đây ? Thưa đó chỉ là mượn chút hình ảnh quen thuộc của quê hương, mượn câu thành ngữ dân gian để nói về cái hội CCSTS Phú Yên thân yêu của chúng ta. Một cái hội toàn tre, không măng !
 
Trong danh sách chính thức, hội CCSTS Phú Yên hiện nay có tổng cộng là 56 người và người trẻ nhất của hội năm nay “đà” 44 tuổi, đó là anh Phêrô Võ Tá Dũng. Người tuổi lớn hơn đứng kề trên anh Dũng năm nay cũng “đà” 55 . Hàng 60, 65 thì kể không xiết. Hàng 70 cũng chẳng hiếm. Và đóng vai già làng trưởng bản của hội đó là anh Tôma Hà Văn Sanh, năm nay cũng “đà” 80. Không có một búp măng non nào cả, dù là măng U30 hay măng U40… Báo cáo toàn bộ húp cháo, không ai húp cơm!
 
Từ ngày hội ra mắt tới nay đã hơn 15 năm, danh sách thì hình như có tăng, nhưng tăng đây chỉ là nhờ công tác thống kê, nhờ rà soát số người bị bỏ sót chứ không phải nhờ những gương mặt vừa mới “tu ra” tới đăng ký. Có người bảo đây là một tín hiệu vui vì điều ấy chứng tỏ rằng ngày nay hễ đi tu là đạt đạo, là tới đích, là không cởi áo ra về như ngày xưa nên mới không có cựu tu sĩ mới để gia nhập hội. Như vậy là đáng mừng chứ còn muốn gì nữa. Chẳng lẽ lại muốn xúm nhau cầu nguyện xin Chúa cho số người bỏ tu mỗi ngày một gia tăng để hội chúng con càng ngày càng thêm đông số hay sao.
 
Ôi nói như thế là nói cho vui chứ thực ra nó cũng xót xa lắm, vì cái lý do mà hội chúng ta không có thêm hội viện tu xuất trẻ tuổi, thuộc lớp măng non đó chỉ là vì hiện nay số người đi tu ở Phú Yên quá ít. Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt chẳng có. Không người đi tu thì lấy gì có người bỏ tu !
 
Chỉ tính riêng năm vừa qua thôi mà trong hội ta đã có hai người qua đời, hai cây tre già phải lìa bụi. Sự ra đi của hai người anh em cũng là  tiếng chuông báo cho lũ tre già còn lại biết rằng giờ của mình sắp điểm. Ôi ! Cả lũ sắp lên Thọ Vức nằm mà ngó đi ngó lại chẳng thấy cái mụt măng thế chổ cho mình đang đứng ở chổ nào cả. Phải làm gì để cho cái bụi tre CCSTS này có thể tồn tại và phát triển đây.
Biết cậy vào ai… biết trông nhờ ai…
 
Tuy Nhiên
 

 
VỀ LONG XUYÊN
 
Được chủng viện Quy Nhơn đào tạo, nhưng khi làm linh mục lại phục vụ cho một giáo phận khác, đó là trường hợp cha Nguyễn Công Từ, hiện đang là cha sở giáo xứ Đồng Công thuộc giáo phận Long Xuyên, nơi mà mấy anh em lớp tôi vừa rủ nhau kéo xuống để kỷ niệm 50 năm ngày « xuống tóc quy y ». 1966-2016. Nhưng chẳng phải chỉ riêng một mình cha Từ mới là kẻ phải tha phương cầu đạo mà toàn bộ các linh mục lớp tôi đều là phải đi cầu đạo chốn tha phương hết.

Trong số năm ông cùng lớp 66 được nhận chức linh mục thì hai ông về Nha Trang, hai ông chuyển qua tu dòng, cái ông còn lại thì lén trốn xuống tận Long Xuyên tu mình ên. Không một ông nào ở lại giáo phận mẹ. Như thế có phải lớp tôi toàn là một cái lũ ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng không !

Chẳng ai muốn thế nhưng những chuyện do thời thế gây ra thì đành phải chịu thế. Thời thế thế thế thời phải thế. Nhưng phục vụ đâu mà chẳng là phục vụ cho Chúa, cho giáo hội. Cứ phục vụ hết mình là trường xưa bạn cũ mừng rồi.

Đầu năm 1966 khi vào đệ thất, sĩ số lớp tôi là 52, nhưng cuối năm trên bảng thành tích biểu chỉ ghi tên có 49 thằng, tức ngay trong năm học đã có 3 em rớt đài. Cuối năm ấy cả đuổi lẫn ở lại lớp mất thêm 10 mạng nữa. Rồi hàng năm cái tuồng « đuổi và ở » cứ diễn đi diễn lại để đến hết năm 12 chỉ còn 12 mống. Nhiêu khê như thế mới thấy lời kinh thánh nói chẳng sai : Ta sàng các ngươi như sàng gạo. Sàng đi sàng lại mà giờ vẫn còn được 5 hạt lúa giống đã là quá bảnh. Năm linh mục. Lớp ta có quyền ngửng mũi lên nhìn thiên hạ rồi đấy nhá.
Hiện anh em lớp tôi ở trong nước còn sống vào khoảng 20 người. Đi hội ngộ được 13 mống. Hội ngộ chỉ là để nhìn nhau xem thử thằng nào già hơn thằng nào, để ôn lại những chuyện ngày xưa, để tâm tình ba cái chuyện hôm nay và để chọc nhau cười bể bụng. Dù rằng gặp nhau chỉ có hai ngày thôi nhưng sao cả lũ đều thấy nó thật quý. Bên nhau hồn nhiên từng thằng mới nhận ra cái điều đơn giản này là…  mình vẫn còn trẻ chán.
Cát Giang
 

HOA
 
Mai vàng chẳng trổ hoa mừng mùa nắng mới
Chăm bẳm nẩy lộc xanh
Điệp vàng chẳng đợi nổi tháng năm
Rụng đầy hè phố vắng
Phượng vĩ đỏ thắm tới phiên
Lười biếng chẳng chịu đâm hoa
Mừng tháng năm chan hòa
Chỉ mỗi vàng hoàng hậu
Rực rỡ cùng nắng.
 
Sa Giang
 
HOA THÁNG NĂM DÂNG MẸ
Tháng năm hoa nở ngợp trời,ö
Hái hoa dâng Mẹ trọn lời con xin.
Hoa đơn sơ cạn cõi lòng,
Suốt đời phó thác luôn mong ơn lành.
Hoa kiêu sa là lòng thành,
Cả đời đoan hứa thực hành yêu thương.
 

 
Hoa sắc tím dâng nỗi buồn.

Hy sinh cho mẹ luôn luôn nguyện cầu.
Đời con mang vạn nỗi sầu,
Niềm tin sắt đá, ân sâu nặng tình.
Mẹ thương ! xin Chúa muôn ơn,
Xua tan u tối, nguồn cơn dại khờ.
Đời con thôi hết bơ vơ,
Mẹ luôn nâng đỡ, đến bờ yêu thương.
Tháng hoa  2017
Phương Hạc
 
 
 
Mùa chay về
 
Dể cùng được vượt qua
Với con yêu dáu cha
Bước vào đời sống mới
Muôn đời khúc ngợi ca

 
 
 
528.TIF
 

Thang 3 mùa chay về
Là dịp thuận lối kề
Để con vào sám hối
Tâm tư những nghĩ suy
 
Bao nhiêu năm phiêu bạt
Đau xót cả xuân thì
Đời lặng lẽ qua đi
Con chẳng hề định đoạt
 
Thế giới mà con yêu
Nghịch lý biết bao điều
Thế giới mà con sống
Chất chồng những dối điêu
 
Chỉ là bả phù vân
Có đó rôi biến tan
Thế mà con miên man
Đắm chim trong hoang tưởng
 
 
Chính nhờ những mùa chay
Mà con được đổi thay
Chúa ban muôn ân sũng
Niềm tin vững tháng ngày
 
Con chỉ là thụ tạo
Sức riêng quá tầm thường
Có Chúa Ngài chỉ đạo
Con thắng dẹp sầu thương
 
Chúa ơi mùa chay nầy
Con nguyện thức với Thầy
Chúa ơi là tâm nguyện
Tình con đây… đong đầy
 
Tôma Hà Sanh
 
 
 
50 NĂM LÀNG SÔNG ĐÓ
 
hội ngộ nơi đây miền tây xa lắc
anh em ta giờ tóc bạc da nhăn
mặt mũi giống như mấy trái dừa khằn
giống lũ khỉ già rừng sâu rú thẳm    
 
đã bước chân qua hai thiên niên kỷ
mở miệng nói toàn thứ chuyện ngàn năm 
xem năm mươi năm là chuyện rất gần
tựa chuyện hôm qua một cơn gió thoàng
 
nhớ buổi sáng ấy theo nhau vào lớp
một lũ trẻ con mái tóc xanh bay
quần trắng áo trắng hồn trắng thơ ngây
học sĩ bổn tràng Làng Sông chủng viện
 
con đường tu hành biết bao là chuyện
nào phải cứ muốn là bước tới đâu
mà phải có duyên tu rất nhiệm mầu
mới được trời thương cho ban cơ nghiệp
 
theo tháng năm trôi từng thằng kế tiếp
nối gót chân nhau chén gạo lui binh
đại nghiệp ngàn năm mở rộng thiên đình
xin giao lại cho năm thầy gánh vác
 
bốn lăm thằng kia xớn xa xớn xác
xao xác giữa đời nuôi vợ nuôi con
thằng thầy thằng thợ thằng ở trên non
thằng thì sa trường chết không toàn mạng
 
hôm nay về đây đoàn ta gặp mặt
hội ngộ miền tây mình lại gặp mình
cách xa nhưng vẫn luôn thắm niềm tìn
đâu có les Quy - Làng Sông ở đó
 
cùng đọc kinh nào Ave Maria
cùng hát vang lên khúc tụng Te Deum
như nghe đâu đây giọng cha đốc mình
chú nào đó hát mà không mở miệng
 
thằng khuất mặt thằng vắng mặt thằng đang hiện diện
nào hãy cùng nhau tay ấm vòng tay
nào cùng nâng ly uống chén rượu đầy
mừng năm mươi năm Làng Sông sáu sáu
(Cát Giang)

 
NGỠ PHỤC SINH
ngỡ Ngài phục sinh trong xác thân hoàn hảo
không dấu mão gai chẳng dấu tích cạnh nương long
không vết đóng đinh không đòn vọt hằn lên mình
hoàn hảo ngự xuống trên trần gian tội lỗi

ngỡ Ngài phục sinh là sấm rền sét nổ
khiếp kinh mấy thầy tư tế mấy lũ quân quan
khiếp kinh lão Caipha khiếp kinh lão Philate
đấm ngực ăn năn vì đã đổ máu người vô tội

ngỡ Ngài phục sinh là ánh ngời chói lọi
vinh quang các bà đang tuyệt vọng khổ đau
vinh quang các môn đồ khiếp vía trốn chui đầu
Thầy chết rồi chúng tìm ra là chết chắc !

ngỡ Ngài phục sinh là đời ta một bước
đứa tựa bên này đứa ngự ở bên kia
đứa hò đứa hét đứa chỉ trỏ tía lia
Thầy ta phục sinh ! phim tụi bay hết chiếu

ta đã nhìn phục sinh bằng mắt nheo trần thế
bằng tham sân si dục vọng chất đầy lòng
bằng tâm hồn hoá đá phủ rêu phong
Thầy phục sinh … ta còn trong cõi chết

 Một Dòng Sông
 

ƠN GỌI...CHÚA ĐÙA
  
Chúa đùa làm con khổ Chúa ơi !
Thanh xuân ao ước suốt một đời
Hiến dâng phục vụ trong nhà Chúa
Hăng hái bước theo tiếng gọi mời
 
Ngày qua tháng tới chẳng bao năm
Ơn gọi hôm nay Chúa bảo nhầm
Con đành rẻ lối đời đôi lứa
Hôn nhân con cái sống âm thầm
 
Rồi Chúa lại đùa với con con
Cũng thích đi tu tuổi trăng tròn
Cả nhà ngăn cản nhưng con quyết
Dâng con cho Chúa dẫu nhuốm buồn
 
Tưởng con thay thế mẹ năm xưa
Ai ngờ một phen Chúa lại đùa
Trả con con lại cho gia quyến
Có thích bao nhiêu cũng bằng thừa
 
Đến lượt đứa út muốn đi tu
Hành trang khăn gói lại giã từ
Vào dòng hăng hái đời tu đức
Suốt mấy năm rồi chắc được tu
 
Niềm vui vừa đến vội qua mau
Một nắng hai sương tóc bạc màu
Chúa lại đùa con thêm lần nữa
Trả đứa út về tim nhói đau
 
Chúa mãi cứ đùa. Khổ Chúa ơi !
Dẫu sao con vẫn mỉm môi cười
Chỉ biết xin vâng theo Thánh Ý
Làm nhân chứng Thánh giữa đời thôi.
Catarina.
 

 
 
SẮC TRẦN

Trần gian nay ở mai về
Người tranh kẻ chấp bốn bề chẳng yên
Đua chen cũng bỡi bạc tiền
Khiến đời dậy sóng triền miên chẳng lành
Sao đành phụ kiếp nhân sinh
Để mây để gió để tình vơi đi
Đêm nghe sóng vỗ thầm thì
Sương kia thấm ướt hàng mi rủ sầu
Làm sao xóa hết thương đau
Để hồn thư thái để sầu tiêu tan
Tình ta hòa khúc dịu dàng
Thương yêu rộng khắp tràn lan cõi đời
Tình yêu đâu phải xa vời
Chất yêu hòa thắm đất trời quanh ta
Sống sao chân chất thật thà
Người người thương mến nhà nhà yên vui
Hờn ghen tranh chấp đẩy lùi
An hòa đem đến rực mùi yêu thương
Bên nhau cùng bước một đường
Sống lòng thương xót tình thương chan hòa
 
Phêrô Đào Nghĩa Minh


THÁNG HOA HỘI NGỘ
 
Lại một năm qua đi, ngày hội ngộ CCSTS lại đến. Tâm tư thấp thỏm đợi chờ giây phút gặp mặt để cùng những người bạn đã từng ăn chén cơm nhà Chúa chia sẻ những vui buồn, những thắc mắc gặp trong cuộc sống. Đó là niềm vui mà Chúa đã sắp xếp qua trung gian cha sở cho anh chị em cùng hội chúng ta vào buổi hoàng hôn cuộc đời mình. Kim Nguyên không biết nói gì hay viết gì, bắt đầu từ đâu vì lúc này trí óc đã trở nên quá già nua theo dòng năm tháng.
 
Mười hai năm K.N được Chúa, Mẹ Mân Côi cùng nhà dòng cưu mang dạy dỗ khôn lớn trong bình an. Thắp sáng đức tin và niềm tin yêu cho K.N dù trong hoàn cảnh nào của cuộc sống.
 
Hôm nay tháng hoa kính Mẹ. K.N có một vài dòng thơ gửi Mẹ Maria. Xin được chia sẻ cùng mọi người.
 

 
 
DÂNG MẸ
 
Con dâng Mẹ đóa hoa hồng màu trắng
Điểm tô con toàn màu trắng trinh nguyên
Xin Mẹ thương luôn gìn giữ chở che
Còn đẹp mãi dù qua bao giông tố
 
Và Mẹ ơi ! Đây là hoa hồng đỏ
Kiêu hãnh kiên cường Mẹ đã điểm tô
Đừng bao giờ khuất phục trước nguy cơ
Giữa thời cuộc đảo điên trong cuộc sống
 
Và đây nữa hồng vàng con tặng Mẹ
Lòng thủy chung Mẹ đã dạy cho con
Biết yêu thương biết chia sẻ vẹn tròn
Như kinh hòa bình thường ngày con vẫn đọc
 
Con không quên dâng Mẹ hoa hồng tím
Biết nhịn nhục và biết sống thứ tha
Đừng gian dối giữa cuộc sống xa hoa
Vì nơi đây không phải miền vĩnh cửu
 
Và đây nữa bông hồng xanh áo Mẹ
Phủ đời con đậm mãi nét thiên thanh
Biết xin vâng như Mẹ sống trung thành
Dù đường đời nhiều gian nan thử thách
 
Bông hông đen cuối cùng con gửi Mẹ
Những may mắn, hạnh phúc của dời con
Những đắng cay và những nỗi buồn vui
Bàn tay Mẹ chở che con Mẹ nhé.
 
Và đây Mẹ gia đình cựu chủng sinh tu sĩ
Mỗi chúng con cũng tựa một bông hoa
Xin gom lại kính dâng Mẹ ngàn hoa
Đem gieo rắc những nời nào con đến.
 
Con yêu Mẹ
Kim Nguyên
 
Kim Nguyên xin kính chúc ACE trong đại gia đình cựu chủng sinh tu sĩ luôn tràn đầy hồng ân Chúa và tình thương Mẹ Maria.


Nguồn tin: Giáo xứ Tuy Hòa
Từ khóa:

đạo đức, đơn sơ

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn